Log in

View Full Version : Giật thót người vớii nước mắm Việt độ đạm cao có tới hơn 95% bị nhiễm thạch tín


PinaColada
10-17-2016, 09:35
Nước mắm là thứ nước chấm quen thuộc của người Việt, dù bất kf ở đâu trên khắp thế giới. Văn hóa "chấm chung" bát nước mắm đă đi ṿa những trang văn học nổi tiếng. Theo tiêu chuẩn sản xuất thủ công th́ dộ đạm chỉ đạt tới 28% là cao. Vậy mà dân ta cứ đổ xô di ăn nước mắm độ đạm cao, bây giờ mới ngă ngửa người...

Theo kết quả của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng, có đến 101/150 mẫu nước mắm được khảo sát có hàm lượng thạch tín cao quá mức cho phép. Đáng chú ư, 95,65 % nước mắm độ đạm cao th́ chứa thạch tín càng nhiều.

http://vietbf.com/forum/attachment.php?attac hmentid=949745&stc=1&d=1476696606

Theo kết quả công bố của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam kết quả xét nghiệm arsen (thạch tín) tổng cho thấy có đến 101/150 mẫu nước mắm được khảo sát (chiếm 67,3%) không đạt quy định, có hàm lượng thạch tín cao quá mức cho phép. Trong đó 95,65% nước mắm độ đạm cao chứa thạch tín càng nhiều.

Từ lâu nay nước mắm luôn là gia vị không thể thiếu đối với các gia đ́nh Việt Nam, tuy vậy không phải ai cũng hiểu rơ và hiểu đúng về thành phần dinh dưỡng, độ an toàn cần có của sản phẩm nước mắm khi đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, điều đáng lo ngại hiện nay là người tiêu dùng hoàn toàn không có nhiều thông tin mà nhà sản xuất ghi trên nhăn sản phẩm.

Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dung Việt Nam đă tiến hành lấy mẫu khảo sát nội dung ghi nhăn và các nhóm chỉ tiêu hoá học về thành phần, cấu tạo an toàn thực phẩm của nước mắm gồm các thành phần hoá học như nitơ toàn phần, nitơ axit amin và nitơ ammoniac, hàm lượng kim loại nặng arsen hay c̣n goi là thạch tín và hàm lượng mối.

Tổng số lượng mẫu khảo sát là 150 mẫu nước mắm thành phần đóng chai có hàm lượng nitơ toàn phần ghi trên nhăn từ 10g/l đến 60g/l của 88 nhăn hiệu được mua trực tiếp từ đại lư phân phối, các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ bán lẻ và cửa hàng bán sản phẩm đặc sản.

Theo nội dung ghi trên nhăn, các mẫu này được sản xuất từ các cơ sở có địa chỉ tại 19 tỉnh, thành trên toàn quốc như Hà Nội, Thái B́nh, Hải Pḥng, Nghệ An, Thanh Hoá, B́nh Định, Long An, Phú Thọ, Nam Định, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, B́nh Thuận, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, TP.HCM và một mẫu của Thái Lan.

Kết quả khảo sát cho thấy: 125/150 mẫu khảo sát đều có ít nhất một chỉ tiêu trong 5 chỉ tiêu của nhóm hóa học được khảo sát nêu trên không đạt so với tiêu chuẩn hoặc so với công bố trên nhăn hàng hóa.

Trong đó: 51% mẫu có kết quả chỉ tiêu nitơ toàn phần nhỏ hơn những ǵ doanh nghiệp công bố trên nhăn hàng hóa; 20% mẫu không đạt chỉ tiêu Nitơ axit amin; 2% mẫu không đạt chỉ tiêu nitơ amoniac; Đặc biệt, có khoảng 67% mẫu không đạt chỉ tiêu arsen tổng theo quy định của Bộ Y tế.

Tuy nhiên, khi thử nghiệm 20 mẫu trong số các mẫu khảo sát có arsen tổng vượt ngưỡng quy định th́ đều không phát hiện arsen vô cơ (với giới hạn phát hiện là 0,01mg/l). Trong số 51% số mẫu có lượng nitơ toàn phần thấp hơn con số nhà sản xuất công bố trên nhăn hàng hóa, có tới gần 15% số mẫu có độ chênh lệch so với nhăn mác trên 40%.

Theo quy định QCVN 8-2:2011/BYT, hàm lượng Arsen (thạch tín) cho phép có trong sản phẩm nước chấm tối đa là 1,0mg/L. Tuy nhiên, kết quả thử nghiệm Arsen tổng cho thấy có đến 101/150 mẫu khảo sát (chiếm 67,3%) không đạt quy định của QCVN này. Trong đó, hàm lượng arsen tổng của mẫu không đạt dao động từ trên 1.0mg/L đến 5mg/L. Điều đáng chú ư là các mẫu nước mắm có độ đạm càng cao, tỉ lệ các mẫu có hàm lượng arsen tổng vượt ngưỡng quy định càng tăng, cụ thể là 95,65% số mẫu khảo sát có độ đạm từ 40 trở lên được đánh giá có hàm lượng thạch tín vượt ngưỡng quy định.

Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam yêu cầu doanh nghiệp phải minh bạch thông tin cho người tiêu dùng về bản chất của sản phẩm nước mắm như: Phương pháp chế biến, nguồn gốc, xuất xứ, thành phần, dung lượng và các thành phần khác theo quy định một cách chính xác và trung thực, đảm bảo vệ sinh an toàn cho sản phẩm nước mắm từ nguyên liệu cho đến sản phẩm cuối cùng.

Người tiêu dùng cần tự trang bị những kiến thức để lựa chọn các sản phẩm phải thỏa măn hai tiêu chí: Hương vị thơm ngon và giá trị dinh dưỡng cao nhưng phải đảm bảo an toàn, vệ sinh.

Hội cũng kiến nghị đến cơ quan chính phủ và cơ quan quản lư các cấp nghiên cứu để sớm có quy định cụ thể về bản chất các loại nước mắm đang sản xuất và lưu thông trên thị trường trong nước, cần tăng cường kiểm tra về chất lượng, quy tŕnh sản xuất, nội dung ghi nhăn nước mắm và công bố kết quả kiểm tra, xử lư nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà sản xuất và góp phần bảo tồn đặc sản nước mắm của Việt Nam.

Viertbf @ sưu tầm.