florida80
01-02-2021, 17:51
Đă mười sáu năm trôi qua kể từ ngày cầu Sông Hàn nối nhịp bờ vui, cuộc sống của những người chèo đ̣ cũng có phần đổi khác. Có người thôi làm nghề đưa khách qua sông để buôn bán nhỏ, có người an phận tuổi già nhưng c̣n không ít những d́, những mẹ vẫn bám lấy con đ̣ nhỏ mưu sinh như một phần máu thịt không thể tách rời.
https://i.imgur.com/EA53dyY.jpg
Trong số gần 40 ghe đ̣ hành nghề, phân nửa là phụ nữ đơn thân bươn chải để nuôi con ăn học. Ảnh: HOÀNG HÂN
“Đ̣ ơi!”… Tiếng gọi đ̣ của ai đó cất lên trong sáng tinh mơ giữa những ồn ào, tấp nập của Cảng cá Thọ Quang, tôi nghe tim ḿnh như thắt lại bởi ngày xưa, tôi cũng lớn lên từ con đ̣ cḥng chành của má. Nh́n những chiếc đ̣ nhỏ mưu sinh giữa ḍng đời xuôi ngược, ai biết rằng mỗi nhịp chèo của những người phụ nữ nghèo là một nỗi niềm buồn vui khó tả. Có những bà mẹ mấy mươi năm chèo đ̣ đến khi tuổi xế chiều vẫn không có một mái nhà để ở, có những chị luống tuổi có tấm chồng cũng như không, có những cô lại “nối nghiệp” theo mẹ chèo đ̣... Phận chèo đ̣ - như những người phụ nữ nhỏ bé ấy tâm sự, chỉ gói gọn trong một chữ “khổ”.
Đă mười sáu năm trôi qua kể từ ngày cầu Sông Hàn nối nhịp bờ vui, cuộc sống của những người chèo đ̣ cũng có phần đổi khác. Có người thôi làm nghề đưa khách qua sông để buôn bán nhỏ, có người an phận tuổi già nhưng c̣n không ít những d́, những mẹ vẫn bám lấy con đ̣ nhỏ mưu sinh như một phần máu thịt không thể tách rời.
Nhiều người tranh thủ vớt chai nhựa, vỏ lon trôi nổi trên mặt sông để kiếm thêm thu nhập.
Má tôi – từ dạo ấy, cũng thôi làm nghề chèo đ̣, nhà tôi không c̣n ở làng cá Nại Hiên Đông nữa. Bẵng thời gian mười mấy năm trôi qua, trong bể dâu của cuộc đời, tôi gặp lại gương mặt quen thuộc của những cô, những d́ vẫn c̣n làm nghề chèo đ̣ năm xưa. Vẫn là d́ Hường, d́ Hương, bà Thám hay cho quà bánh hồi tôi c̣n bé…, chỉ có điều thời gian đă làm tóc họ thêm điểm bạc, làn da thêm nám sạm v́ nắng gió. Ngồi trên chiếc đ̣ nhỏ của d́ Hường để t́m lại một phần tuổi thơ đă mất, tôi như thấy ấm ḷng v́ vẫn có vài người nhớ đến và hỏi thăm má tôi, bà ngoại tôi.
Làm nghề chèo đ̣ từ năm 12 tuổi, đến nay đă 35 năm gắn bó cái vị mằn mặn của sông nước, chị Lê Thị Lệ, ở nhà 4B, khu chung cư (KCC) Làng cá Nại Hiên Đông, vẫn không quên được những năm tháng làm nghề chèo đ̣ trên ḍng sông Hàn. “Hồi trước chưa có cầu bắc qua sông, nghề chèo đ̣ cũng tấp nập lắm. Phần lớn người dân Nại Hiên Đông đều làm nghề chèo đ̣, nhờ đó mà nuôi con ăn học nên người. Chừ chuyển qua chèo đ̣ ở Cảng cá Thọ Quang có phần khó khăn hơn nhưng cũng được dăm ba đồng đủ sống qua ngày”, chị Lệ tâm sự. Trong giọng nói rưng rưng của người phụ nữ đơn thân ấy dường như chứa chất sự mỏi mệt v́ phải thức suốt đêm chèo đ̣ để chở cá vào bờ, chở khách ra tàu.
Theo những người chèo đ̣ lâu năm cho biết, hiện ở Cảng cá Thọ Quang có khoảng 40 chiếc ghe hành nghề, cũng chủ yếu là của người dân phường Nại Hiên Đông. Phải thức từ đêm khuya đến sáng, thậm chí qua trưa, nhiều người làm nghề chèo đ̣ đă mấy mươi năm không có giấc ngủ yên, chỉ mong kiếm được chút tiền đem về lo cho chồng bệnh tật, lo cho con được cắp sách đến trường.
Chồng bị bệnh tâm thần từ khi sinh đứa con út, một ḿnh nuôi bốn người con ăn học bằng nghề chèo đ̣, d́ Huỳnh Thị Hường (65 Ngô Trí Ḥa, phường Nại Hiên Đông) vẫn c̣n nhớ như in những năm tháng vất vả ngược xuôi trên ḍng sông Hàn. Mắt đăm đăm nh́n ra nơi xa xăm nào đó, d́ Hường kể: “Chú bị bệnh mấy chục năm ni, có nhiều lúc khổ quá, d́ cũng ráng chớ biết răng. Hồi xưa c̣n ở nhà chồ, nắng mưa lo thắc thỏm mà làm nghề chèo đ̣ th́ lấy đâu ra tiền để xây nhà trên bờ.
Bây chừ con cái đă có vợ có chồng, d́ mới xây được mái nhà để ở, cũng bớt khổ hơn nhiều chị em chèo đ̣ khác. Đoàn ghe đ̣ mưu sinh ở đây đa phần là chị em nghèo, nhiều người chồng nhậu say cả ngày, kể ra có chồng cũng như không có”. Tiếng thở dài của d́ Hường nghe như tiếng ḷng trăn trở của những “phận má hồng” suốt ngày lầm lũi bên con đ̣ nhỏ mưu sinh mà quên đi thời gian đă làm phai tàn nhan sắc.
Vừa chở xong hai chuyến ghe cá cho chủ tàu, mặt nhễ nhại mồ hôi, bà Thám (KCC Làng cá Nại Hiên Đông) cho ghe đậu dưới gầm cầu cảng để tránh cái nắng gay gắt của mùa hè. Năm nay đă ngoài 60 tuổi, làm nghề chèo đ̣ hơn 40 năm, bà Thám được xem là tay lái đ̣ “kỳ cựu” nhất ở đây. Chồng bỏ đi theo vợ khác, một ḿnh bà nuôi hai con, có những lúc rơi vào đường cùng nhưng bà cũng cố gắng vượt qua số phận trớ trêu. Bây giờ, các con đă lập gia đ́nh nhưng bà vẫn không thôi cái nghề bấp bênh theo sông nước. Bà Thám kể, 40 ghe đ̣ hành nghề ở bến Thọ Quang th́ có đến phân nửa là phụ nữ đơn thân, nhiều người chồng chết sớm hoặc bỏ đi, phải một ḿnh bươn chải với con đ̣ nhỏ để nuôi con mà không một lời than trách. Tiền đ̣ không đủ, nhiều người c̣n tranh thủ những lúc đ̣ rỗi vớt chai nhựa, vỏ lon trôi nổi trên mặt sông để kiếm thêm thu nhập đắp đổi qua ngày.
Mùa nắng th́ không nói nhưng nghề chèo đ̣ sợ nhất là khi trời rét, chèo xong ghe cá cho chủ tàu mà tay run cầm cập, mặt tái xanh v́ gió mưa. Mùa mưa, biển động, tàu ít ra vào bến, người qua sông cũng vắng nên thu nhập của chị em đoàn đ̣ giảm hẳn. Những tháng mùa mưa khó khăn nhưng những người phụ nữ làm nghề chèo đ̣ nơi đây vẫn “chia ngọt sẻ bùi” với nhau như chị em ruột thịt. Đoàn ghe đ̣ Thọ Quang có sự phân chia “khu vực” rạch ṛi để khỏi mất ḷng nhau, người chở cá vụn, người chở cá lớn, người chở cá cho tàu Đà Nẵng, người chở cá cho tàu B́nh Định…
Ai cũng có mối lái quen của ḿnh nên trên bến cá không hề xảy ra xô xát, căi vă, giành giật nhau. Những ai nghèo, ai khổ th́ luôn được người khác nhường cho một hai chuyến đ̣ để chở, có thêm đồng ra đồng vào lo cho chồng con. Thường th́ có ba bốn chiếc đ̣ kèm cặp nhau đậu một chỗ, hễ nghe tiếng gọi đ̣ th́ các d́, các cô nhường cho người khổ hơn hoặc cùng nhau chở cá cho một chủ tàu. “Ở đây ai cũng nghèo cũng khổ, chị em thương nhau không hết.
Cũng là phận đàn bà với nhau, bám ở đây mưu sinh mấy chục năm rồi nên coi như người trong nhà, buồn vui có chị có em để quên đi cái mệt cái khổ”, d́ Đinh Thị Hiền (KCC Làng cá Nại Hiên Đông) trải ḷng. Làm nghề chèo đ̣ đă mấy mươi năm rồi, nhà trong diện giải tỏa từ năm 1998 nhưng đến nay d́ Hiền mới xin được chung cư ra ở riêng.
Thế nhưng, không phải ai cũng may mắn như d́ Hiền khi nhiều phụ nữ đơn thân ở đoàn ghe đ̣ này vẫn không có một mái nhà để đi đi về về. Chồng bị tai nạn qua đời, “thân c̣” nuôi ba người con ăn học, d́ Nguyễn Thị Đây (nhà 1C, KCC Làng cá Nại Hiên Đông) bao năm nay vẫn phải ở cùng với cha mẹ trong căn chung cư nhỏ. Dạo gần đây, hay xảy ra chuyện “đụng chén đụng bát” với người thân trong nhà nên d́ Đây phải che đỡ mái nhà gần KCC để ở. “Mấy năm trước có băo nên ghe bị bể, d́ phải vay mượn tiền để mua chiếc ghe khác chở đ̣, rồi trả lần mới xong.
D́ chỉ mong thành phố xem xét cho d́ thuê được chung cư để con cái có chỗ ở chỗ học đường hoàng. Chứ mấy năm nay d́ đem đơn đi miết mà vẫn chưa được”, d́ Đây lau vội ḍng nước mắt vừa chực lăn xuống đôi g̣ má hốc hác. Người đàn bà vừa mới bước qua tuổi 50 nhưng tóc đă bạc trắng, răng rụng gần hết v́ cái cực cái nghèo đeo bám măi.
Tiếng gọi đ̣ làm ngắt quăng câu chuyện buồn của d́ Đây. Đội vội chiếc nón trắng, d́ nhanh tay quặt mái chèo để cho ghe vào bờ chở khách. Nh́n tấm thân gầy guộc, đôi mắt thâm sâu v́ nhiều đêm mất ngủ của d́ Đây, tôi cứ thấy thương măi những con đ̣ nhỏ cô đơn trên bến sông dài rộng. Nghe một câu nói vui của một chị đ̣ ở bên kia cất lên: “Chèo đ̣ khổ lắm ai ơi. Chồng chê, chồng bỏ, một ḿnh cô đơn”, thấy da diết cả cơi ḷng.
Rời Cảng cá Thọ Quang khi bến đă dần tan nhưng tiếng gọi “đ̣ ơi” vẫn khắc khoải trong ḷng tôi một nỗi niềm khó tả. Xa xa, những chiếc đ̣ cḥng chành trên sông nước, những chiếc nón trắng chao nghiêng lấp lánh cả mặt sông. Dù cuộc đời có những lúc “ba ch́m bảy nổi” nhưng những người phụ nữ nhỏ bé ấy vẫn vươn lên trong cuộc sống bằng cả nghị lực phi thường.
HOÀNG HÂN
https://i.imgur.com/EA53dyY.jpg
Trong số gần 40 ghe đ̣ hành nghề, phân nửa là phụ nữ đơn thân bươn chải để nuôi con ăn học. Ảnh: HOÀNG HÂN
“Đ̣ ơi!”… Tiếng gọi đ̣ của ai đó cất lên trong sáng tinh mơ giữa những ồn ào, tấp nập của Cảng cá Thọ Quang, tôi nghe tim ḿnh như thắt lại bởi ngày xưa, tôi cũng lớn lên từ con đ̣ cḥng chành của má. Nh́n những chiếc đ̣ nhỏ mưu sinh giữa ḍng đời xuôi ngược, ai biết rằng mỗi nhịp chèo của những người phụ nữ nghèo là một nỗi niềm buồn vui khó tả. Có những bà mẹ mấy mươi năm chèo đ̣ đến khi tuổi xế chiều vẫn không có một mái nhà để ở, có những chị luống tuổi có tấm chồng cũng như không, có những cô lại “nối nghiệp” theo mẹ chèo đ̣... Phận chèo đ̣ - như những người phụ nữ nhỏ bé ấy tâm sự, chỉ gói gọn trong một chữ “khổ”.
Đă mười sáu năm trôi qua kể từ ngày cầu Sông Hàn nối nhịp bờ vui, cuộc sống của những người chèo đ̣ cũng có phần đổi khác. Có người thôi làm nghề đưa khách qua sông để buôn bán nhỏ, có người an phận tuổi già nhưng c̣n không ít những d́, những mẹ vẫn bám lấy con đ̣ nhỏ mưu sinh như một phần máu thịt không thể tách rời.
Nhiều người tranh thủ vớt chai nhựa, vỏ lon trôi nổi trên mặt sông để kiếm thêm thu nhập.
Má tôi – từ dạo ấy, cũng thôi làm nghề chèo đ̣, nhà tôi không c̣n ở làng cá Nại Hiên Đông nữa. Bẵng thời gian mười mấy năm trôi qua, trong bể dâu của cuộc đời, tôi gặp lại gương mặt quen thuộc của những cô, những d́ vẫn c̣n làm nghề chèo đ̣ năm xưa. Vẫn là d́ Hường, d́ Hương, bà Thám hay cho quà bánh hồi tôi c̣n bé…, chỉ có điều thời gian đă làm tóc họ thêm điểm bạc, làn da thêm nám sạm v́ nắng gió. Ngồi trên chiếc đ̣ nhỏ của d́ Hường để t́m lại một phần tuổi thơ đă mất, tôi như thấy ấm ḷng v́ vẫn có vài người nhớ đến và hỏi thăm má tôi, bà ngoại tôi.
Làm nghề chèo đ̣ từ năm 12 tuổi, đến nay đă 35 năm gắn bó cái vị mằn mặn của sông nước, chị Lê Thị Lệ, ở nhà 4B, khu chung cư (KCC) Làng cá Nại Hiên Đông, vẫn không quên được những năm tháng làm nghề chèo đ̣ trên ḍng sông Hàn. “Hồi trước chưa có cầu bắc qua sông, nghề chèo đ̣ cũng tấp nập lắm. Phần lớn người dân Nại Hiên Đông đều làm nghề chèo đ̣, nhờ đó mà nuôi con ăn học nên người. Chừ chuyển qua chèo đ̣ ở Cảng cá Thọ Quang có phần khó khăn hơn nhưng cũng được dăm ba đồng đủ sống qua ngày”, chị Lệ tâm sự. Trong giọng nói rưng rưng của người phụ nữ đơn thân ấy dường như chứa chất sự mỏi mệt v́ phải thức suốt đêm chèo đ̣ để chở cá vào bờ, chở khách ra tàu.
Theo những người chèo đ̣ lâu năm cho biết, hiện ở Cảng cá Thọ Quang có khoảng 40 chiếc ghe hành nghề, cũng chủ yếu là của người dân phường Nại Hiên Đông. Phải thức từ đêm khuya đến sáng, thậm chí qua trưa, nhiều người làm nghề chèo đ̣ đă mấy mươi năm không có giấc ngủ yên, chỉ mong kiếm được chút tiền đem về lo cho chồng bệnh tật, lo cho con được cắp sách đến trường.
Chồng bị bệnh tâm thần từ khi sinh đứa con út, một ḿnh nuôi bốn người con ăn học bằng nghề chèo đ̣, d́ Huỳnh Thị Hường (65 Ngô Trí Ḥa, phường Nại Hiên Đông) vẫn c̣n nhớ như in những năm tháng vất vả ngược xuôi trên ḍng sông Hàn. Mắt đăm đăm nh́n ra nơi xa xăm nào đó, d́ Hường kể: “Chú bị bệnh mấy chục năm ni, có nhiều lúc khổ quá, d́ cũng ráng chớ biết răng. Hồi xưa c̣n ở nhà chồ, nắng mưa lo thắc thỏm mà làm nghề chèo đ̣ th́ lấy đâu ra tiền để xây nhà trên bờ.
Bây chừ con cái đă có vợ có chồng, d́ mới xây được mái nhà để ở, cũng bớt khổ hơn nhiều chị em chèo đ̣ khác. Đoàn ghe đ̣ mưu sinh ở đây đa phần là chị em nghèo, nhiều người chồng nhậu say cả ngày, kể ra có chồng cũng như không có”. Tiếng thở dài của d́ Hường nghe như tiếng ḷng trăn trở của những “phận má hồng” suốt ngày lầm lũi bên con đ̣ nhỏ mưu sinh mà quên đi thời gian đă làm phai tàn nhan sắc.
Vừa chở xong hai chuyến ghe cá cho chủ tàu, mặt nhễ nhại mồ hôi, bà Thám (KCC Làng cá Nại Hiên Đông) cho ghe đậu dưới gầm cầu cảng để tránh cái nắng gay gắt của mùa hè. Năm nay đă ngoài 60 tuổi, làm nghề chèo đ̣ hơn 40 năm, bà Thám được xem là tay lái đ̣ “kỳ cựu” nhất ở đây. Chồng bỏ đi theo vợ khác, một ḿnh bà nuôi hai con, có những lúc rơi vào đường cùng nhưng bà cũng cố gắng vượt qua số phận trớ trêu. Bây giờ, các con đă lập gia đ́nh nhưng bà vẫn không thôi cái nghề bấp bênh theo sông nước. Bà Thám kể, 40 ghe đ̣ hành nghề ở bến Thọ Quang th́ có đến phân nửa là phụ nữ đơn thân, nhiều người chồng chết sớm hoặc bỏ đi, phải một ḿnh bươn chải với con đ̣ nhỏ để nuôi con mà không một lời than trách. Tiền đ̣ không đủ, nhiều người c̣n tranh thủ những lúc đ̣ rỗi vớt chai nhựa, vỏ lon trôi nổi trên mặt sông để kiếm thêm thu nhập đắp đổi qua ngày.
Mùa nắng th́ không nói nhưng nghề chèo đ̣ sợ nhất là khi trời rét, chèo xong ghe cá cho chủ tàu mà tay run cầm cập, mặt tái xanh v́ gió mưa. Mùa mưa, biển động, tàu ít ra vào bến, người qua sông cũng vắng nên thu nhập của chị em đoàn đ̣ giảm hẳn. Những tháng mùa mưa khó khăn nhưng những người phụ nữ làm nghề chèo đ̣ nơi đây vẫn “chia ngọt sẻ bùi” với nhau như chị em ruột thịt. Đoàn ghe đ̣ Thọ Quang có sự phân chia “khu vực” rạch ṛi để khỏi mất ḷng nhau, người chở cá vụn, người chở cá lớn, người chở cá cho tàu Đà Nẵng, người chở cá cho tàu B́nh Định…
Ai cũng có mối lái quen của ḿnh nên trên bến cá không hề xảy ra xô xát, căi vă, giành giật nhau. Những ai nghèo, ai khổ th́ luôn được người khác nhường cho một hai chuyến đ̣ để chở, có thêm đồng ra đồng vào lo cho chồng con. Thường th́ có ba bốn chiếc đ̣ kèm cặp nhau đậu một chỗ, hễ nghe tiếng gọi đ̣ th́ các d́, các cô nhường cho người khổ hơn hoặc cùng nhau chở cá cho một chủ tàu. “Ở đây ai cũng nghèo cũng khổ, chị em thương nhau không hết.
Cũng là phận đàn bà với nhau, bám ở đây mưu sinh mấy chục năm rồi nên coi như người trong nhà, buồn vui có chị có em để quên đi cái mệt cái khổ”, d́ Đinh Thị Hiền (KCC Làng cá Nại Hiên Đông) trải ḷng. Làm nghề chèo đ̣ đă mấy mươi năm rồi, nhà trong diện giải tỏa từ năm 1998 nhưng đến nay d́ Hiền mới xin được chung cư ra ở riêng.
Thế nhưng, không phải ai cũng may mắn như d́ Hiền khi nhiều phụ nữ đơn thân ở đoàn ghe đ̣ này vẫn không có một mái nhà để đi đi về về. Chồng bị tai nạn qua đời, “thân c̣” nuôi ba người con ăn học, d́ Nguyễn Thị Đây (nhà 1C, KCC Làng cá Nại Hiên Đông) bao năm nay vẫn phải ở cùng với cha mẹ trong căn chung cư nhỏ. Dạo gần đây, hay xảy ra chuyện “đụng chén đụng bát” với người thân trong nhà nên d́ Đây phải che đỡ mái nhà gần KCC để ở. “Mấy năm trước có băo nên ghe bị bể, d́ phải vay mượn tiền để mua chiếc ghe khác chở đ̣, rồi trả lần mới xong.
D́ chỉ mong thành phố xem xét cho d́ thuê được chung cư để con cái có chỗ ở chỗ học đường hoàng. Chứ mấy năm nay d́ đem đơn đi miết mà vẫn chưa được”, d́ Đây lau vội ḍng nước mắt vừa chực lăn xuống đôi g̣ má hốc hác. Người đàn bà vừa mới bước qua tuổi 50 nhưng tóc đă bạc trắng, răng rụng gần hết v́ cái cực cái nghèo đeo bám măi.
Tiếng gọi đ̣ làm ngắt quăng câu chuyện buồn của d́ Đây. Đội vội chiếc nón trắng, d́ nhanh tay quặt mái chèo để cho ghe vào bờ chở khách. Nh́n tấm thân gầy guộc, đôi mắt thâm sâu v́ nhiều đêm mất ngủ của d́ Đây, tôi cứ thấy thương măi những con đ̣ nhỏ cô đơn trên bến sông dài rộng. Nghe một câu nói vui của một chị đ̣ ở bên kia cất lên: “Chèo đ̣ khổ lắm ai ơi. Chồng chê, chồng bỏ, một ḿnh cô đơn”, thấy da diết cả cơi ḷng.
Rời Cảng cá Thọ Quang khi bến đă dần tan nhưng tiếng gọi “đ̣ ơi” vẫn khắc khoải trong ḷng tôi một nỗi niềm khó tả. Xa xa, những chiếc đ̣ cḥng chành trên sông nước, những chiếc nón trắng chao nghiêng lấp lánh cả mặt sông. Dù cuộc đời có những lúc “ba ch́m bảy nổi” nhưng những người phụ nữ nhỏ bé ấy vẫn vươn lên trong cuộc sống bằng cả nghị lực phi thường.
HOÀNG HÂN