PDA

View Full Version : Các đồng tiền châu Á lại mất giá mạnh trước USD


therealrtz
07-04-2023, 04:14
Hàng loạt đồng tiền châu Á liên tục mất giá trước USD, làm dấy lên quan ngại rằng các ngân hàng trung ương trong khu vực lại phải can thiệp vào thị trường ngoại hối.

Chưa tới một năm sau cú sốc tỷ giá diễn ra vào cuối năm 2022, nhiều đồng tiền châu Á lại một lần nữa rơi vào t́nh trạng tương tự khi tỷ giá giảm sâu. Đáng chú ư nhất là đồng yên. Tỷ giá yên/USD vào cuối ngày giao dịch 3/7 trên thị trường châu Á đă giảm xuống c̣n 144,834 yên đổi 1 USD. Trước đó, tỷ giá có lúc c̣n vượt mốc 145 yên đổi 1 USD. Như vậy, đồng yên đă mất 13% giá trị kể từ ngày 15/1/2023.

https://www.intermati.com/forum/attachment.php?attac hmentid=2239511&stc=1&d=1688444004
Tỷ giá USD/yên. Nguồn: xe.com

Tương tự với đồng yên là nhân dân tệ của Trung Quốc và đồng ringgit của Malaysia. Nhân dân tệ vẫn đang ở gần ngưỡng thấp nhất kể từ tháng 10/2022, trong ringgit của Malaysia cũng đang tiến về mức thấp từng được ghi nhận vào tháng 11/2022.

Dễ nhận thấy các đồng tiền châu Á đang đứng trước sức ép tỷ giá lớn so với USD, và đây dường như là vấn đề chung ở nhiều nền kinh tế trong khu vực.

Nguyên nhân khiến các đồng tiền châu Á mất giá

Nguyên nhân lớn nhất và cũng dễ nhận thấy nhất là sự khác biệt trong chính sách tiền tệ ở châu Á và Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có sức ảnh hưởng mạnh nhất trên thị trường tài chính toàn cầu. Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang FED vẫn đang kiên tŕ với cuộc chiến chống lạm phát, nhằm đưa chỉ số giá tiêu dùng CPI về mức mục tiêu 2% từ mức 4% như hiện nay. Để thực hiện được mục tiêu này, FED tiếp tục chính sách nâng lăi suất một cách đều đặn qua các cuộc họp chính sách hằng tháng. Mới nhất, FED đă tạm ngừng nâng lăi suất trong tháng 6, nhưng các nhà phân tích cho rằng rất có khả năng ngân hàng trung ương này sẽ nối lại việc nâng lăi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp vào tháng 7 sắp tới.

Ở chiều ngược lại, các nước châu Á hầu như không phải đối mặt với t́nh trạng lạm phát cao, ví dụ như Trung Quốc, hoặc có rơi vào lạm phát cao, ví dụ như Nhật Bản, nhưng vẫn ưu tiên các chính sách kích cầu kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 5/2023 tại Trung Quốc chỉ tăng có 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Con số này không chỉ cho thấy mặt bằng giá cả tại Trung Quốc vẫn đang được giữ hết sức ổn định, mà c̣n là một tín hiệu cho thấy nhu cầu tiêu dùng nội địa ở nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới chưa đủ mạnh như mong muốn của các nhà điều hành.

Do không chịu áp lực phải hạ tỷ lệ lạm phát nên thay v́ tăng lăi suất, các ngân hàng trung ương ở châu Á vẫn tiếp tục giữ lăi suất ở mức rất thấp, hoặc thậm chí c̣n hạ lăi suất để hỗ trợ các hoạt động vay vốn đầu tư sản xuất và tiêu dùng, mua sắm. Hiện nay, Ngân hàng trung ương Nhật Bản BOJ vẫn đang giữ lăi suất ngắn hạn ở mức âm 0,1%. Trong khi đó, vào ngày 20/6 vừa qua, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đă cắt giảm lăi suất cho vay cơ bản kỳ hạn 1 năm 10 điểm cơ bản, xuống mức 3,55%, đồng thời cắt giảm lăi suất cho vay cơ bản kỳ hạn 5 năm được sử dụng để xác định lăi suất thế chấp thêm 10 điểm cơ bản xuống mức 4,2%.

Sự nghịch chiều chính sách tiền tệ giữa các nền kinh tế Mỹ (và cả châu Âu) với châu Á rốt cuộc đă khiến t́nh trạng chênh lệch mặt bằng lăi suất giăn rộng, thúc đẩy ḍng vốn rút khỏi các thị trường châu Á để đổ vào Mỹ. Trong 5 tháng đầu năm 2023, Trung Quốc đă ghi nhận ḍng vốn ngoại rút ṛng khỏi các thị trường chứng khoán nước này với con số lên đến 170 tỷ nhân dân tệ (24 tỷ USD). Khi ḍng vốn rút khỏi thị trường chứng khoán và hệ thống tài chính – ngân hàng nói chung để t́m kiếm cơ hội sinh lời lớn hơn tại các nền kinh tế áp dụng lăi suất cao hơn, áp lực sẽ ngày càng gia tăng với đồng nội tệ và khiến các đồng tiền châu Á giảm giá sâu.

Với Nhật Bản, bên cạnh chênh lệch lăi suất, nước này c̣n phải nhập khẩu phần lớn năng lượng và sử dụng USD làm đồng tiền thanh toán, dẫn tới việc BOJ phải liên tục bán ra đồng yên. Thâm hụt thương mại của Nhật Bản trong tháng 5/2023 ở mức 1,3 ngh́n tỷ yên (8,98 tỷ USD). Thâm hụt thương mại là vấn đề lâu dài của nền kinh tế nước này.

Các nước châu Á sẽ làm ǵ trước bài toán tỷ giá?

Phần lớn nền kinh tế châu Á sẵn sàng chấp nhận tỷ giá ở mức thấp vừa phải so với USD nhằm thúc đẩy xuất khẩu và đảm bảo sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước. Nền kinh tế Nhật Bản vẫn duy tŕ đà tăng trưởng tốt bất chấp tỷ giá thấp. GDP Nhật Bản đă tăng lần lượt 2,7% và 2,2% trong hai quư đầu năm 2023, một dữ liệu minh chứng cho quyết tâm giữ chính sách tiền tệ siêu lỏng của BOJ và chính phủ Nhật Bản là hợp lư. Tuy nhiên, BOJ luôn phải cẩn trọng trước các cú sốc tỷ giá, tức những biến động quá dữ dội trong thời gian quá ngắn, khiến những công ty vay nợ bằng ngoại tệ và các công ty nhập khẩu của nước này chịu thiệt hại nghiêm trọng. Sự biến động tỷ giá lớn cũng khiến các công ty Nhật Bản gặp khó khăn trong việc dự báo triển vọng kinh doanh tại các thị trường quốc tế, kéo theo khó khăn trong lên kế hoạch đầu tư.

Để tránh cú sốc tỷ giá, đă có nhiều quan điểm cho rằng không sớm th́ muộn các ngân hàng trung ương châu Á phải can thiệp bằng cách bán ra dự trữ ngoại hối. Với các nền kinh tế lớn, có dự trữ ngoại tệ đủ lớn, biện pháp này đă chứng minh hiệu quả trong quá khứ. Nhật Bản đă thực hiện hai lần can thiệp vào thị trường ngoại hối vào tháng 10/2022, trong đó số quy mô can thiệp ngày 21/10 lên đến 5.620,2 tỷ yên (38 tỷ USD), cao nhất trong lịch sử nước này. Các biện pháp can thiệp này đă đảm bảo sự ổn định tạm thời của đồng yên, tránh các cuộc tấn công mang tính đầu cơ.

Tuy nhiên, với các nền kinh tế nhỏ hơn và dự trữ ngoại hối thấp hơn, việc bán USD và mua vào đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối sẽ không đủ, buộc ngân hàng trung ương các nước này phải tiến hành tăng lăi suất để ngăn ḍng vốn rút khỏi thị trường tài chính trong nước. Hồi tháng 5/2023, Malaysia đă bất ngờ tiến hành tăng lăi suất qua đêm thêm 25 điểm cơ bản. Đợt tăng lăi suất này diễn ra ngay sau cú sốc tỷ giá ngày 2/5 khi tỷ giá tăng vọt lên mức 4,5 ringgit đổi 1 USD.

Dự báo về biến động tỷ giá

Các áp lực về tỷ giá giữa các đồng tiền châu Á với USD được dự báo sẽ kéo dài trong suốt năm 2023 và có thể sang năm 2024. Chủ tịch FED ông Jerome Powell cho rằng Mỹ không thể kéo lăi suất về mức mục tiêu 2% trong năm 2024, và mục tiêu này chỉ có thể thực hiện vào năm 2025. Như vậy, nhiều khả năng FED sẽ duy tŕ lăi suất cao trong 1 đến 2 năm tới và các dự báo trước đây về việc FED sẽ hạ lăi suất vào quư 4/2023 khó có thể trở thành hiện thực. Đây sẽ là thách thức không nhỏ cho châu Á trong việc đảm bảo sự ổn định của đồng nội tệ trong khi vẫn phải duy tŕ các biện pháp thúc đẩy nền kinh tế thông qua các chính sách kích cầu và mặt bằng lăi suất thấp.

Một yếu tố khác tác động đến diễn biến tỷ giá trong thời gian tới là khả năng chống chịu của kinh tế Mỹ trước mặt bằng lăi suất cao. Trong suốt 1 năm qua, bất chấp việc FED liên tục tăng lăi suất, kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng và thị trường lao động vẫn thắt chặt, chừng nào xu thế này c̣n tiếp diễn FED vẫn có động lực để tiếp tục cuộc chiến chống lạm phát với hệ quả tất yếu là làm giảm sức mua, dẫn đến áp lực lên các nền kinh tế xuất khẩu lớn vào Mỹ. Đây là một ṿng lặp nhiều khả năng sẽ khiến kinh tế thế giới và châu Á nói riêng gặp nhiều khó khăn trong năm tới.



VietBF@ Sưu tập