Romano
12-23-2014, 19:29
LTG : Sau khi nhà nước CSVN kư kết lại Hiệp định biên giới trên đất liền với Trung Quốc ngày 30 tháng 12 năm 1999 th́ sau đó nhiều nghi vấn đă đặt ra, trong đó có các câu hỏi về « nhượng đất, nhượng biển » cho Trung Quốc. Tin tức cho biết phía Trung Quốc đă đào lấy các cột mốc lịch sử cắm từ thời Pháp-Thanh 1887, lư do là « đưa vào viện bảo tàng », nhưng việc này sẽ xoá mọi dấu vết đường biên giới ngày xưa. Đây là một hành vi phản văn hóa tương đương với việc xóa, sửa lịch sử. Từ nay không ai có thể so sánh đường biên giới lịch sử và đường biên giới hiện nay trên thực địa để thẩm định việc VN có mất đất hay không và mất bao nhiêu. Việc thẩm định do đó chỉ có thể làm trên bản đồ. Riêng vấn đề có cần phân định lại biên giới hay không th́ h́nh như chưa thấy ai đặt câu hỏi. Xin trích dẫn bài viết này từ cuốn « Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp », in năm 2005, tác giả xin tŕnh bày ư kiến chủ quan của ḿnh về việc VN có nên phân định lại biên giới hay không.
I. Khái niệm về Đường Biên Giới (frontière, boundary) và Biên Giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa:
Theo Quốc Tế Công Pháp (Droit International Public) thuật ngữ « biên giới – frontière » chỉ mới có từ hồi đầu thế kỷ 20, được hiểu như là « enveloppe continue d’un ensemble spacial, d’un Etat », « vỏ bao bọc liên tục của một tập hợp không gian, một quốc gia » ; « le point où expire la compétence territoriale », « điểm chấm dứt thẩm quyền thuộc về lănh thổ ».
Người Việt Nam cũng đă có một quan niệm về biên giới rất sớm, tương đối rơ ràng và khá phù hợp với khái niệm biên giới của công pháp quốc tế theo định nghĩa trên.
Từ năm 1077 dân Việt đă xuất hiện những câu thơ : « Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư, Tiệt Nhiên Định Phận Tại Thiên Thư » (Lư Thường Kiệt). Nam quốc sơn hà, sông núi của nước Nam, hay lănh thổ nước Nam là do vua nước Nam trị v́, việc nầy trong sách trời đă ghi rơ.
Hai câu thơ đă minh thị sự hiện hữu của một nước Nam do hoàng đế nước Nam trị v́, phân biệt với một nước ở miền Bắc, đó là nước Trung Hoa.
“Đường biên-giới” của nước Nam đó có thể t́m thấy qua các phụ chú trong bộ Hồng Đức Bản Đồ, được thực hiện dưới triều Lê Thánh Tôn (1460-1497):
An Nam Đồ Thuyết (Những ǵ ghi trên bản đồ An Nam)
An Nam Chi Địa (đất đai An Nam)
Tây Khóa Ai Lao (phía Tây chận ngang xứ Ai Lao)
Đông Chí Hải Tân (phía Đông chạm đến tận biển)
Bắc Du Lưỡng Quảng (phía Bắc vượt qua hai xứ Quảng)
Nam Khống Chiêm Thành (phía Nam kềm chế Chiêm Thành)[1].
Đường biên giới, nếu được hiểu theo « vỏ bao bọc một tập hợp không gian, một quốc gia », th́ vỏ bọc của nước An Nam cũng liên tục, cũng xác định rơ ràng, tuy có phần sống động, v́ có khả năng co giản. Bốn phía biên giới đều được xác định bằng các động từ. Biên giới phía Bắc của nước ta được xác định bằng động từ “du”, tức là đi vượt qua: Bắc Du Lưỡng Quảng. Có nghĩa là biên giới phía Bắc của nước ta vượt qua khỏi Quảng Đông và Quảng Tây.
Nước Trung Hoa có tên « Trung ». Từ cái tên đặt người Hán đă tự cho rằng đất nước của Hán tộc là cái rốn của vũ trụ. Trung là giữa, là « thiên triều ». Các nước chung quanh họ gọi là phiên bang (nước hàng rào) hay các chư hầu. Các nước chư hầu phải có nhiệm vụ triều cống thiên triều. Ngoài tộc Hán, các dân tộc khác đều bị cho là man di mọi rợ, kể cả các sắc dân Tây Phương. Trung Hoa đă từng xếp nước Pháp (và Anh) vào danh sách các nước chư hầu đă « thần phục ». Lư do là v́ vua Louis XIV nước Pháp có tặng cho Hoàng Đế Trung Hoa một số đồng hồ quả lắc và một số máy móc khác để làm quà giao hảo. Nhưng người Hán xem tặng vật đó là phẩm vật của Pháp cống thiên triều, tỏ ư thần phục. Điểm nầy nên nhấn mạnh là v́ một số học giả Trung Hoa quá đề cao liên hệ thượng quốc chư hầu giữa Trung Hoa và Việt Nam để dành lấn biển Đông. Dựa lên quan hệ này những người này cho rằng biển Đông là « nội hải » của Trung Quốc. Nếu diễn giải như thế th́ vùng biển Địa Trung Hải cũng thuộc Trung Quốc một phần. Không phải Pháp đă là « chư hầu » của Trung Hoa đó sao ? Riêng Việt Nam th́ người Hán gọi chúng ta là Nam Man.
Dầu ngạo mạn như vậy, Hán tộc cũng lấy làm lo ngại việc các nước chư hầu chung quanh “chinh phục” họ. Điều lo ngại nầy rất hợp lư. Các « chư hầu », cũng như bọn « Hồng Mao », « bạch quỉ » Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức, Nga… hay « giặc lùn » Nhật Bản đă phân liệt nước Trung Hoa thành nhiều mảnh và nước này đă chịu một giai đoạn nhục nhă nhất trong lịch sử. Chưa hết, lịch sử của dân Hán cũng là lịch sử của sự đô hộ triền miên ô nhục bởi nhiều « bọn rợ » khác nhau. Nhà Liêu đô hộ Trung Hoa từ năm 907-1125 là rợ Khiết Đan, nhà Kim từ 1115-1234 là rợ Nữ Chân. Nhà Nguyên từ 1206-1368 là dân Mông Cổ, nhà Thanh từ 1616-1911 là nước Măn Châu… tất cả đều là rợ. Các nước Mông Cổ, Măn Châu… xem ra thế lực, văn hóa và văn minh không trội hơn hay xuất sắc hơn Việt Nam. Điểm đáng nhớ, quân Mông Cổ chinh phục gần trọn thế giới nhưng họ cũng đă thua ba lần ở Việt Nam.
V́ thế Trung Hoa mới xây những thành quách hay cửa ải để bao bọc và che chở nước của họ lại. Các kiến trúc như Trấn 鎮, Quan 關, Ải 隘, Khóa hay Ca 卡, tức những công sự hay cửa ải (cửa biên giới) xây trên những đường thông thương giữa hai nước, như dọc trên biên giới Việt Nam, hay kiến trúc Vạn Lư Trường Thành (xây lên để ngăn giặc Hung Nô), dựng lên là nhằm mục đích đó. Vô t́nh, do vậy mà đường biên giới giữa hai nước Việt và Trung Hoa lại được cụ thể hoá. Nếu ta nối các thành quách, những cửa ải, những công sự đóng chốt trên các đường lối thông thương giữa hai nước, ta sẽ có một đường biên giới. Một « vỏ bao bọc » cố định, có khả năng qui định « thẩm quyền lănh thổ » của hai nước. Ngoài ra ta cũng có thể nhắc tới những giới hạn qui ước (biên giới) có tính pháp lư và lịch sử đă đặt ra như trụ đồng, bia đá, biên giới thiên nhiên sông, núi như : sông Đổ Chú (biên giới tổng Tụ Long, thuộc tỉnh Hà Giang với phủ Khai Hóa tỉnh Vân Nam); sông Đàm Lân giới hạn động Kim Lạc; sông Mang Khê là biên giới của động Liễu Cát; sông Tam Kỳ là biên-giới của động Tư Lâm (Tư Phù); Sông Cổ Sâm là biên-giới của động Cổ sâm… với đất Trung Hoa. Núi Phân Mao, phía Đông Nam phủ Khâm Châu, là một trái núi nằm trong rặng Thập Vạn Đại Sơn, dưới chân của nó có trụ đồng của tướng Mă Viện dựng lên vào năm 41 Tây Lịch, đánh dấu biên giới tỉnh Quảng Đông với Việt Nam.
Quan niệm về biên giới của người Việt ta xưa, như vậy phù hợp ít nhiều với quan niệm kim thời của Quốc Tế Công Pháp về biên giới. Riêng về biên giới Việt Trung, chắc chắn đây là một ngoại lệ đặc biệt: Nó đă thể hiện hầu như hoàn toàn tinh thần và nội dung “frontière, boundary” của Công Pháp Quốc Tế.
Đến hậu bán thế kỷ thứ IXX, Pháp vào chiếm nước ta. Ngày 6 tháng 6 năm 1884 Việt Nam và Pháp kư hiệp ước Bảo Hộ. Điều 1 hiệp ước qui định: « L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France. La France représentera l’Annam dans toutes ses relations extérieures. Les Annamites à l’étranger seront placés sous la protection de la France. An Nam nh́n nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho An Nam trong mọi liên hệ với các nước khác. Người An Nam sống ở ngoại quốc sẽ được đặt dưới sự bảo vệ của nước Pháp ». Dựa vào điều nầy nước Pháp đă đại diện nước ta để phân định biên giới giữa nước ta với Trung Hoa. Hai công ước liên quan đến biên giới Việt Trung đă được nhà nước bảo hộ Pháp và triều đ́nh nhà Đại Thanh kư-kết vào ngày 26-6-1887 và ngày 20-6-1895, cùng kư tại Bắc Kinh.
Theo các tài liệu nghi nhận được có 17,2% đường biên giới trên thế giới đă được nước Pháp phân định. 21,5% là do nước Anh[2]. Cả lục địa Phi Châu, các nước Trung Đông, các nước Châu Á như Irak, Jordanie, Iran, Do Thái, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Việt Nam v.v… đều do hai nước Anh và Pháp phân định biên giới. Điều quan trọng là các đường biên giới nầy vẫn c̣n hiệu lực pháp lư cho đến ngày hôm nay.
Thật vậy, theo Convention sur le Droit des Traité de Vienne – Công Ước về Luật của các Hiệp Ước kư tại Vienne (thủ đô Áo Quốc) ngày 29 tháng 5 năm 1969 – Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties : một nước có thể ngưng thi hành một hiệp ước đă kư cũng như có thể hủy bỏ toàn bộ nội dung các hiệp ước nầy v́ tính bất b́nh đẳng của nó (trường hợp các hiệp ước kư dưới thời một nước bị bảo hộ). Tuy nhiên, Điều 11 của Công Ước Vienne có nội-dung:
« Boundary regimes: A succession of States does not as such affect: (a) a boundary established by a treaty; or (b) obligations and rights established by a treaty and relating to the regime of a boundary. »
“Qui tắc về biên giới: Một sự kế tục của Quốc Gia không đặt lại vấn đề về: a) biên giới xác định do một hiệp ước và b) nghĩa vụ và quyền lợi xác định do một hiệp ước có liên hệ với một qui tắc về biên giới.”
Điều nầy cho ta thấy rằng, đứng trên quan điểm công pháp quốc tế, các công ước về biên giới Việt-Trung kư giữa Pháp và nhà Thanh vẫn c̣n giá trị pháp lư.
Ta sẽ thấy việc này một cách cụ thể hơn, nếu ta xét lại hiệu quả của các hiệp ước về biên giới kư kết giữa nước Nga và nhà Thanh, đại diện cho nước Trung Hoa ngày trước. Một số vùng lănh thổ có diện tích khoảng 1.000.000 km² của Trung Hoa đă phải nhượng cho Nga qua hiệp ước 1860 (Hiệp Ước Bắc Kinh) và hiệp ước 1858 (Hiệp Ước Aigun). Đó là các phần đất, gọi là nhượng địa, phía Bắc Măn Châu, Bắc Tân Cương và đảo Sakhaline. Các phần đất nầy hiện nay vẫn thuộc Nga. Thí dụ khác về trường hợp đặc biệt là Hong-Kong (đảo Victoria). Đây là nhượng địa vĩnh viễn của Trung Hoa cho Anh Quốc sau vụ chiến tranh Nha Phiến lần thứ 1 (1840-1842) qua hiệp ước Nam Kinh ngày 29 tháng 8 năm 1842. Đến năm 1860, Trung Hoa phải nhượng vĩnh viễn thêm cho Anh quốc phần đất đối diện Hong-Kong là Kowloon và đảo Stonecutters, qua hiệp ước Bắc Kinh 1860. Đến ngày 9 tháng 6 năm 1898, Trung Hoa lại phải nhượng thêm cho Anh Quốc qua Hiệp Ước kư tại Bắc Kinh, một số đất-đai, gọi là « đất mới », ở chung quanh Hong-Kong và 235 hải đảo. Lần nhượng nầy có thời hạn 99 năm, bắt đầu từ 1 tháng 7 năm 1898, hết hạn 1 tháng 7 năm 1997. Việc trả lại đất và đảo này năm 1997 đặt lại vấn đề chủ quyền Hong-Kong và Kowloon. Việc thương thuyết xăy ra giữa bà thủ tướng Margaret Thatcher với thủ tướng Chao Tse-yang (Triệu Tử Dương) và thỏa thuận trả lại đất được kư vào ngày 19 tháng 12 năm 1984 với một số điều kiện chính trị đặc biệt cho Hong-Kong.
Sau khi dành lại độc lập năm 1949, Trung Hoa đă hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất b́nh đẳng về kinh tế đă kư với các cường quốc. Nhưng Trung Hoa đă không thể hủy bỏ các hiệp ước liên quan đến vấn đề đất đai, biên giới. Tranh chấp về lănh thổ giữa Trung Hoa với các nước khác có tới 21 vụ, trong đó có tranh chấp với Ấn Độ, Nga, các nước Trung Á, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản v.v… Trường hợp đặc biệt khác, Nhật Bản đă thắng trận nhà Thanh, được nhường vĩnh viễn đảo Đài Loan (1895) và đất Măn Châu. Trung Hoa đă chỉ lấy lại được các vùng đất này sau khi Nhật bại trận năm 1945, theo Ḥa Ước San Francisco 1951.
Hậu quả cuộc phân định giữa chính phủ Pháp và triều đ́nh nhà Thanh năm 1887 về đường biên giới Việt Trung đă gây thiệt hại cho phía Việt Nam về đất đai. Lănh thổ Việt Nam bị nhượng ở khắp mọi nơi trên đường biên giới. Quan trọng hơn cả là mất đất vùng tổng Tụ Long, khoảng 750 cây số vuông, thuộc châu Vị Xuyên, nay thuộc tỉnh Hà Giang. Đặc biệt là vùng nầy rất phong phú về quặng mỏ mà người Hán ngày xưa đă từng âm mưu chiếm lấy, nhưng sau đó phải trả lại cho nước ta. Kế đến là tổng Đèo Lương, ở về phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng. Sau đó là 9 xă rưởi thuộc tổng Kiến Duyên và tổng Bát Trang thuộc tỉnh Hải Ninh. Cuối cùng là mũi Bạch Long (Paklung), là một địa điểm rất trọng yếu về kinh tế chiến lược. Về phần lợi, người Pháp được hưởng một số nhượng bộ về kinh tế qua công ước bổ sung về kinh tế, thí dụ như thuốc phiện ở Vân Nam được nhập cảng sang bán tại Việt Nam và Pháp cũng được đặt một số cơ sở kinh tế vùng Hoa Nam. Nhưng Pháp không thành công trong vấn đề bán muối cho vùng Hoa Nam. Về phía người Việt Nam th́ nhờ vậy chúng ta mới có một đường biên giới qui ước và có được một sự an ninh, không bị Tàu lấn áp, hay bị ảnh hưởng trực tiếp bởi người Hoa hơn một trăm năm nay.
II. Việt Nam có nên kư lại hiệp ước về biên giới hay không ?
Nhà nước CSVN đă kư lại với Trung Hoa Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền vào ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Hiệp Ước Phân Định Lănh Hải Trong Vịnh Bắc Bộ 31 tháng 12 năm 2000 là đă chính thức phủ nhận Công Ước Bắc Kinh 1887 và 1895 về biên giới. Câu hỏi đương nhiên đặt ra, tại sao phải kư lại, (và có nên kư hay không), lúc công ước 1887 về biên giới vẫn c̣n hiệu lực ? Hiệu quả của hai hiệp ước mới nầy sẽ thay đổi biên giới của Việt Nam như thế nào?
Nên hay không, lợi hay hại, xin đưa một số dữ kiện dưới đây để chúng ta đi t́m một kết luận.
Đường biên giới giữa hai nước cần phải phân định nếu đường biên giới này chưa được hai nước chính thức công nhận qua các văn kiện pháp lư. Phân định biên giới giữa hai nước được hiểu đại khái là hai nước liên hệ cử đại diện ngồi vào bàn hội nghị để bàn thảo về số phận các vùng đất chưa được xác định chủ quyền chung quanh vùng biên giới, nhằm tiến tới một thỏa ước mà hai bên cùng đồng ư về mọi điểm ở một đường ranh. Đường đó gọi là đường biên giới. Hai bên đă kư cam kết thi hành đúng đắn các điều khoản đă ghi đồng thời có trách nhiệm ǵn giữ và bảo tŕ các cột mốc trên đường biên giới. Các việc này nhằm đem lại ổn định nơi vùng biên giới và ḥa b́nh cho hai nước. Việc phân định biên giới thường có hai thời kỳ: Thời kỳ bàn thảo trên bản đồ (phân định) và thời kỳ cắm mốc trên thực địa (phân giới).
Như đă viết, theo các công ước về luật các công ước kư tại Vienne, Công Ước Pháp Thanh về biên giới Việt Trung 1887 và 1895 vẫn c̣n hiệu lực. Có nghĩa là biên giới Việt Trung đă được phân định và nội dung của sự phân định đó vẫn c̣n giá trị bất biến cho tới khi nào một Hiệp Ước mới có cùng mục tiêu được kư kết giữa hai nước.
Đường biên giới Việt-Trung đă có những vùng đất nào chưa xác định được chủ quyền hay không xác định được chủ quyền để ngày hôm nay phải phân định lại ?
Để có một trả lời đứng đắn cho việc này, thiển nghĩ nên t́m hiểu t́nh trạng đường biên giới Việt Trung sau khi công việc phân định và cắm mốc chấm dứt. Có nghĩa là tổng hợp lại các biến cố liên quan đến việc thay đổi biên giới từ năm 1897 cho đến nay.
Việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, người nghiên cứu hải ngoại không thể t́m được các dữ kiện ghi lại một cách trung thực các biến cố xảy ra – nếu có – từ 1954 đến ngày nay tại vùng biên giới Việt-Trung.
Thứ hai, từ năm 1954 trở về trước, hồ sơ về biên giới Việt-Trung (Công-Ước 1877, 1895) được tồn trữ ở Văn Khố Đông Dương (Centre des Archives d’Outre-Mer – CAOM), thuộc tỉnh Aix-en-Provence, Pháp quốc. Nhưng một số hồ sơ do Sở Địa Dư Đông Dương để lại th́ vẫn c̣n được xếp vào loại « mật », chưa công bố, một số hồ sơ bị thất lạc.
I. Khái niệm về Đường Biên Giới (frontière, boundary) và Biên Giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa:
Theo Quốc Tế Công Pháp (Droit International Public) thuật ngữ « biên giới – frontière » chỉ mới có từ hồi đầu thế kỷ 20, được hiểu như là « enveloppe continue d’un ensemble spacial, d’un Etat », « vỏ bao bọc liên tục của một tập hợp không gian, một quốc gia » ; « le point où expire la compétence territoriale », « điểm chấm dứt thẩm quyền thuộc về lănh thổ ».
Người Việt Nam cũng đă có một quan niệm về biên giới rất sớm, tương đối rơ ràng và khá phù hợp với khái niệm biên giới của công pháp quốc tế theo định nghĩa trên.
Từ năm 1077 dân Việt đă xuất hiện những câu thơ : « Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư, Tiệt Nhiên Định Phận Tại Thiên Thư » (Lư Thường Kiệt). Nam quốc sơn hà, sông núi của nước Nam, hay lănh thổ nước Nam là do vua nước Nam trị v́, việc nầy trong sách trời đă ghi rơ.
Hai câu thơ đă minh thị sự hiện hữu của một nước Nam do hoàng đế nước Nam trị v́, phân biệt với một nước ở miền Bắc, đó là nước Trung Hoa.
“Đường biên-giới” của nước Nam đó có thể t́m thấy qua các phụ chú trong bộ Hồng Đức Bản Đồ, được thực hiện dưới triều Lê Thánh Tôn (1460-1497):
An Nam Đồ Thuyết (Những ǵ ghi trên bản đồ An Nam)
An Nam Chi Địa (đất đai An Nam)
Tây Khóa Ai Lao (phía Tây chận ngang xứ Ai Lao)
Đông Chí Hải Tân (phía Đông chạm đến tận biển)
Bắc Du Lưỡng Quảng (phía Bắc vượt qua hai xứ Quảng)
Nam Khống Chiêm Thành (phía Nam kềm chế Chiêm Thành)[1].
Đường biên giới, nếu được hiểu theo « vỏ bao bọc một tập hợp không gian, một quốc gia », th́ vỏ bọc của nước An Nam cũng liên tục, cũng xác định rơ ràng, tuy có phần sống động, v́ có khả năng co giản. Bốn phía biên giới đều được xác định bằng các động từ. Biên giới phía Bắc của nước ta được xác định bằng động từ “du”, tức là đi vượt qua: Bắc Du Lưỡng Quảng. Có nghĩa là biên giới phía Bắc của nước ta vượt qua khỏi Quảng Đông và Quảng Tây.
Nước Trung Hoa có tên « Trung ». Từ cái tên đặt người Hán đă tự cho rằng đất nước của Hán tộc là cái rốn của vũ trụ. Trung là giữa, là « thiên triều ». Các nước chung quanh họ gọi là phiên bang (nước hàng rào) hay các chư hầu. Các nước chư hầu phải có nhiệm vụ triều cống thiên triều. Ngoài tộc Hán, các dân tộc khác đều bị cho là man di mọi rợ, kể cả các sắc dân Tây Phương. Trung Hoa đă từng xếp nước Pháp (và Anh) vào danh sách các nước chư hầu đă « thần phục ». Lư do là v́ vua Louis XIV nước Pháp có tặng cho Hoàng Đế Trung Hoa một số đồng hồ quả lắc và một số máy móc khác để làm quà giao hảo. Nhưng người Hán xem tặng vật đó là phẩm vật của Pháp cống thiên triều, tỏ ư thần phục. Điểm nầy nên nhấn mạnh là v́ một số học giả Trung Hoa quá đề cao liên hệ thượng quốc chư hầu giữa Trung Hoa và Việt Nam để dành lấn biển Đông. Dựa lên quan hệ này những người này cho rằng biển Đông là « nội hải » của Trung Quốc. Nếu diễn giải như thế th́ vùng biển Địa Trung Hải cũng thuộc Trung Quốc một phần. Không phải Pháp đă là « chư hầu » của Trung Hoa đó sao ? Riêng Việt Nam th́ người Hán gọi chúng ta là Nam Man.
Dầu ngạo mạn như vậy, Hán tộc cũng lấy làm lo ngại việc các nước chư hầu chung quanh “chinh phục” họ. Điều lo ngại nầy rất hợp lư. Các « chư hầu », cũng như bọn « Hồng Mao », « bạch quỉ » Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức, Nga… hay « giặc lùn » Nhật Bản đă phân liệt nước Trung Hoa thành nhiều mảnh và nước này đă chịu một giai đoạn nhục nhă nhất trong lịch sử. Chưa hết, lịch sử của dân Hán cũng là lịch sử của sự đô hộ triền miên ô nhục bởi nhiều « bọn rợ » khác nhau. Nhà Liêu đô hộ Trung Hoa từ năm 907-1125 là rợ Khiết Đan, nhà Kim từ 1115-1234 là rợ Nữ Chân. Nhà Nguyên từ 1206-1368 là dân Mông Cổ, nhà Thanh từ 1616-1911 là nước Măn Châu… tất cả đều là rợ. Các nước Mông Cổ, Măn Châu… xem ra thế lực, văn hóa và văn minh không trội hơn hay xuất sắc hơn Việt Nam. Điểm đáng nhớ, quân Mông Cổ chinh phục gần trọn thế giới nhưng họ cũng đă thua ba lần ở Việt Nam.
V́ thế Trung Hoa mới xây những thành quách hay cửa ải để bao bọc và che chở nước của họ lại. Các kiến trúc như Trấn 鎮, Quan 關, Ải 隘, Khóa hay Ca 卡, tức những công sự hay cửa ải (cửa biên giới) xây trên những đường thông thương giữa hai nước, như dọc trên biên giới Việt Nam, hay kiến trúc Vạn Lư Trường Thành (xây lên để ngăn giặc Hung Nô), dựng lên là nhằm mục đích đó. Vô t́nh, do vậy mà đường biên giới giữa hai nước Việt và Trung Hoa lại được cụ thể hoá. Nếu ta nối các thành quách, những cửa ải, những công sự đóng chốt trên các đường lối thông thương giữa hai nước, ta sẽ có một đường biên giới. Một « vỏ bao bọc » cố định, có khả năng qui định « thẩm quyền lănh thổ » của hai nước. Ngoài ra ta cũng có thể nhắc tới những giới hạn qui ước (biên giới) có tính pháp lư và lịch sử đă đặt ra như trụ đồng, bia đá, biên giới thiên nhiên sông, núi như : sông Đổ Chú (biên giới tổng Tụ Long, thuộc tỉnh Hà Giang với phủ Khai Hóa tỉnh Vân Nam); sông Đàm Lân giới hạn động Kim Lạc; sông Mang Khê là biên giới của động Liễu Cát; sông Tam Kỳ là biên-giới của động Tư Lâm (Tư Phù); Sông Cổ Sâm là biên-giới của động Cổ sâm… với đất Trung Hoa. Núi Phân Mao, phía Đông Nam phủ Khâm Châu, là một trái núi nằm trong rặng Thập Vạn Đại Sơn, dưới chân của nó có trụ đồng của tướng Mă Viện dựng lên vào năm 41 Tây Lịch, đánh dấu biên giới tỉnh Quảng Đông với Việt Nam.
Quan niệm về biên giới của người Việt ta xưa, như vậy phù hợp ít nhiều với quan niệm kim thời của Quốc Tế Công Pháp về biên giới. Riêng về biên giới Việt Trung, chắc chắn đây là một ngoại lệ đặc biệt: Nó đă thể hiện hầu như hoàn toàn tinh thần và nội dung “frontière, boundary” của Công Pháp Quốc Tế.
Đến hậu bán thế kỷ thứ IXX, Pháp vào chiếm nước ta. Ngày 6 tháng 6 năm 1884 Việt Nam và Pháp kư hiệp ước Bảo Hộ. Điều 1 hiệp ước qui định: « L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France. La France représentera l’Annam dans toutes ses relations extérieures. Les Annamites à l’étranger seront placés sous la protection de la France. An Nam nh́n nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho An Nam trong mọi liên hệ với các nước khác. Người An Nam sống ở ngoại quốc sẽ được đặt dưới sự bảo vệ của nước Pháp ». Dựa vào điều nầy nước Pháp đă đại diện nước ta để phân định biên giới giữa nước ta với Trung Hoa. Hai công ước liên quan đến biên giới Việt Trung đă được nhà nước bảo hộ Pháp và triều đ́nh nhà Đại Thanh kư-kết vào ngày 26-6-1887 và ngày 20-6-1895, cùng kư tại Bắc Kinh.
Theo các tài liệu nghi nhận được có 17,2% đường biên giới trên thế giới đă được nước Pháp phân định. 21,5% là do nước Anh[2]. Cả lục địa Phi Châu, các nước Trung Đông, các nước Châu Á như Irak, Jordanie, Iran, Do Thái, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Việt Nam v.v… đều do hai nước Anh và Pháp phân định biên giới. Điều quan trọng là các đường biên giới nầy vẫn c̣n hiệu lực pháp lư cho đến ngày hôm nay.
Thật vậy, theo Convention sur le Droit des Traité de Vienne – Công Ước về Luật của các Hiệp Ước kư tại Vienne (thủ đô Áo Quốc) ngày 29 tháng 5 năm 1969 – Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties : một nước có thể ngưng thi hành một hiệp ước đă kư cũng như có thể hủy bỏ toàn bộ nội dung các hiệp ước nầy v́ tính bất b́nh đẳng của nó (trường hợp các hiệp ước kư dưới thời một nước bị bảo hộ). Tuy nhiên, Điều 11 của Công Ước Vienne có nội-dung:
« Boundary regimes: A succession of States does not as such affect: (a) a boundary established by a treaty; or (b) obligations and rights established by a treaty and relating to the regime of a boundary. »
“Qui tắc về biên giới: Một sự kế tục của Quốc Gia không đặt lại vấn đề về: a) biên giới xác định do một hiệp ước và b) nghĩa vụ và quyền lợi xác định do một hiệp ước có liên hệ với một qui tắc về biên giới.”
Điều nầy cho ta thấy rằng, đứng trên quan điểm công pháp quốc tế, các công ước về biên giới Việt-Trung kư giữa Pháp và nhà Thanh vẫn c̣n giá trị pháp lư.
Ta sẽ thấy việc này một cách cụ thể hơn, nếu ta xét lại hiệu quả của các hiệp ước về biên giới kư kết giữa nước Nga và nhà Thanh, đại diện cho nước Trung Hoa ngày trước. Một số vùng lănh thổ có diện tích khoảng 1.000.000 km² của Trung Hoa đă phải nhượng cho Nga qua hiệp ước 1860 (Hiệp Ước Bắc Kinh) và hiệp ước 1858 (Hiệp Ước Aigun). Đó là các phần đất, gọi là nhượng địa, phía Bắc Măn Châu, Bắc Tân Cương và đảo Sakhaline. Các phần đất nầy hiện nay vẫn thuộc Nga. Thí dụ khác về trường hợp đặc biệt là Hong-Kong (đảo Victoria). Đây là nhượng địa vĩnh viễn của Trung Hoa cho Anh Quốc sau vụ chiến tranh Nha Phiến lần thứ 1 (1840-1842) qua hiệp ước Nam Kinh ngày 29 tháng 8 năm 1842. Đến năm 1860, Trung Hoa phải nhượng vĩnh viễn thêm cho Anh quốc phần đất đối diện Hong-Kong là Kowloon và đảo Stonecutters, qua hiệp ước Bắc Kinh 1860. Đến ngày 9 tháng 6 năm 1898, Trung Hoa lại phải nhượng thêm cho Anh Quốc qua Hiệp Ước kư tại Bắc Kinh, một số đất-đai, gọi là « đất mới », ở chung quanh Hong-Kong và 235 hải đảo. Lần nhượng nầy có thời hạn 99 năm, bắt đầu từ 1 tháng 7 năm 1898, hết hạn 1 tháng 7 năm 1997. Việc trả lại đất và đảo này năm 1997 đặt lại vấn đề chủ quyền Hong-Kong và Kowloon. Việc thương thuyết xăy ra giữa bà thủ tướng Margaret Thatcher với thủ tướng Chao Tse-yang (Triệu Tử Dương) và thỏa thuận trả lại đất được kư vào ngày 19 tháng 12 năm 1984 với một số điều kiện chính trị đặc biệt cho Hong-Kong.
Sau khi dành lại độc lập năm 1949, Trung Hoa đă hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất b́nh đẳng về kinh tế đă kư với các cường quốc. Nhưng Trung Hoa đă không thể hủy bỏ các hiệp ước liên quan đến vấn đề đất đai, biên giới. Tranh chấp về lănh thổ giữa Trung Hoa với các nước khác có tới 21 vụ, trong đó có tranh chấp với Ấn Độ, Nga, các nước Trung Á, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản v.v… Trường hợp đặc biệt khác, Nhật Bản đă thắng trận nhà Thanh, được nhường vĩnh viễn đảo Đài Loan (1895) và đất Măn Châu. Trung Hoa đă chỉ lấy lại được các vùng đất này sau khi Nhật bại trận năm 1945, theo Ḥa Ước San Francisco 1951.
Hậu quả cuộc phân định giữa chính phủ Pháp và triều đ́nh nhà Thanh năm 1887 về đường biên giới Việt Trung đă gây thiệt hại cho phía Việt Nam về đất đai. Lănh thổ Việt Nam bị nhượng ở khắp mọi nơi trên đường biên giới. Quan trọng hơn cả là mất đất vùng tổng Tụ Long, khoảng 750 cây số vuông, thuộc châu Vị Xuyên, nay thuộc tỉnh Hà Giang. Đặc biệt là vùng nầy rất phong phú về quặng mỏ mà người Hán ngày xưa đă từng âm mưu chiếm lấy, nhưng sau đó phải trả lại cho nước ta. Kế đến là tổng Đèo Lương, ở về phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng. Sau đó là 9 xă rưởi thuộc tổng Kiến Duyên và tổng Bát Trang thuộc tỉnh Hải Ninh. Cuối cùng là mũi Bạch Long (Paklung), là một địa điểm rất trọng yếu về kinh tế chiến lược. Về phần lợi, người Pháp được hưởng một số nhượng bộ về kinh tế qua công ước bổ sung về kinh tế, thí dụ như thuốc phiện ở Vân Nam được nhập cảng sang bán tại Việt Nam và Pháp cũng được đặt một số cơ sở kinh tế vùng Hoa Nam. Nhưng Pháp không thành công trong vấn đề bán muối cho vùng Hoa Nam. Về phía người Việt Nam th́ nhờ vậy chúng ta mới có một đường biên giới qui ước và có được một sự an ninh, không bị Tàu lấn áp, hay bị ảnh hưởng trực tiếp bởi người Hoa hơn một trăm năm nay.
II. Việt Nam có nên kư lại hiệp ước về biên giới hay không ?
Nhà nước CSVN đă kư lại với Trung Hoa Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền vào ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Hiệp Ước Phân Định Lănh Hải Trong Vịnh Bắc Bộ 31 tháng 12 năm 2000 là đă chính thức phủ nhận Công Ước Bắc Kinh 1887 và 1895 về biên giới. Câu hỏi đương nhiên đặt ra, tại sao phải kư lại, (và có nên kư hay không), lúc công ước 1887 về biên giới vẫn c̣n hiệu lực ? Hiệu quả của hai hiệp ước mới nầy sẽ thay đổi biên giới của Việt Nam như thế nào?
Nên hay không, lợi hay hại, xin đưa một số dữ kiện dưới đây để chúng ta đi t́m một kết luận.
Đường biên giới giữa hai nước cần phải phân định nếu đường biên giới này chưa được hai nước chính thức công nhận qua các văn kiện pháp lư. Phân định biên giới giữa hai nước được hiểu đại khái là hai nước liên hệ cử đại diện ngồi vào bàn hội nghị để bàn thảo về số phận các vùng đất chưa được xác định chủ quyền chung quanh vùng biên giới, nhằm tiến tới một thỏa ước mà hai bên cùng đồng ư về mọi điểm ở một đường ranh. Đường đó gọi là đường biên giới. Hai bên đă kư cam kết thi hành đúng đắn các điều khoản đă ghi đồng thời có trách nhiệm ǵn giữ và bảo tŕ các cột mốc trên đường biên giới. Các việc này nhằm đem lại ổn định nơi vùng biên giới và ḥa b́nh cho hai nước. Việc phân định biên giới thường có hai thời kỳ: Thời kỳ bàn thảo trên bản đồ (phân định) và thời kỳ cắm mốc trên thực địa (phân giới).
Như đă viết, theo các công ước về luật các công ước kư tại Vienne, Công Ước Pháp Thanh về biên giới Việt Trung 1887 và 1895 vẫn c̣n hiệu lực. Có nghĩa là biên giới Việt Trung đă được phân định và nội dung của sự phân định đó vẫn c̣n giá trị bất biến cho tới khi nào một Hiệp Ước mới có cùng mục tiêu được kư kết giữa hai nước.
Đường biên giới Việt-Trung đă có những vùng đất nào chưa xác định được chủ quyền hay không xác định được chủ quyền để ngày hôm nay phải phân định lại ?
Để có một trả lời đứng đắn cho việc này, thiển nghĩ nên t́m hiểu t́nh trạng đường biên giới Việt Trung sau khi công việc phân định và cắm mốc chấm dứt. Có nghĩa là tổng hợp lại các biến cố liên quan đến việc thay đổi biên giới từ năm 1897 cho đến nay.
Việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, người nghiên cứu hải ngoại không thể t́m được các dữ kiện ghi lại một cách trung thực các biến cố xảy ra – nếu có – từ 1954 đến ngày nay tại vùng biên giới Việt-Trung.
Thứ hai, từ năm 1954 trở về trước, hồ sơ về biên giới Việt-Trung (Công-Ước 1877, 1895) được tồn trữ ở Văn Khố Đông Dương (Centre des Archives d’Outre-Mer – CAOM), thuộc tỉnh Aix-en-Provence, Pháp quốc. Nhưng một số hồ sơ do Sở Địa Dư Đông Dương để lại th́ vẫn c̣n được xếp vào loại « mật », chưa công bố, một số hồ sơ bị thất lạc.