Log in

View Full Version : Cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại năm 1955 (kỳ 2)


Romano
01-09-2015, 14:26
Vận động theo kiểu cổ truyền và tân tiến

Những tài liệu c̣n lưu trữ chỉ rơ chiến dịch vận động cho cuộc trưng cầu dân ư 23 tháng 10 hoàn toàn một chiều và ai cũng đoán trước được kết quả như thế nào. Tuy nhiên qua đó nó cho thấy nỗ lực của Diệm cố h́nh thành một tinh thần quốc gia cho Miền Nam để đối đầu với ư thức hệ cộng sản. Chiến dịch vận động ồn ào đầy khẩu hiệu của Thủ tướng mùa thu năm 1955 đă hé mở cho thấy không khí chính trị của miền Nam khi Diệm lèo lái một đất nước từ quá khứ cổ truyền và nền hành chính thuộc địa qua nền độc lập giữa mưu cầu trước mắt là canh tân và thống nhất đất nước. Những học giả phương tây từ thập niên 1950 đă nhận ra thuyết thiên mệnh (mandate of heaven) là động lực thúc đẩy đằng sau quan niện chính trị cổ truyền. Diệm và cả những đối thủ đều ôm lấy quan niệm này cho dù đang nỗ lực cải cách chính trị bằng cách đặt nền tảng dân chủ với sự tham gia của toàn dân. Những tư tưởng (dân chủ) này hoàn toàn vay mượn từ Âu châu và Hoa Kỳ bởi những nhà cải cách suốt thế kỷ 20 do tiến tŕnh tự ư thức của nền văn minh đă được sử gia Mark Bradley (37) mô tả rất kỹ lưỡng.

Mới đây những sự nghiên cứu sâu xa về lịch sử từ những tài liệu Việt ngữ cho thấy Diệm đă trộn lẫn giữa chính trị cổ truyền với những quan niệm chính trị tân tiến để h́nh thành một chế độ chính trị đặc biệt cho miền Nam. Phillip Catton trong bài chuyên khảo về quốc sách Ấp Chiến Lược của Miền Nam cho rằng “tư tưởng của Diệm bắt nguồn từ quan niệm và tập quán cũ, nhưng ông ta bắt đầu xây dựng từ năm 1954 một kiểm mẫu quốc gia mới (mô phỏng theo Tây phương) hơn là kiểu mẫu thời tiền thuộc địa.” (38) Cũng nhận xét như thế, Edward Miller cho rằng Diệm “vừa không phải là một anh hùng thần thánh của đất nước mà cũng không phải là một nhà chuyên quyền biết uyển chuyển cuối cùng chết v́ khư khư lấy quan niệm cai trị lỗi thời.” (39)

Cả Catton và Miller đều biểu tỏ rằng trong những năm bao quanh cuộc trưng cầu dân ư Tháng 10, Diệm và Nhu đă cố gắng làm sáng tỏ ư nghĩa của một chủ thuyết thật khó hiểu, đó là thuyết Nhân Vị (personalism) vay mượn từ một người Pháp là Emmanuel Mournier rồi làm cho nó thích nghi với t́nh h́nh Việt Nam. Miller chỉ rơ rằng vào năm 1957 chế độ của Diệm đă đặt Chủ Thuyết Nhân Vị như là một ư thức hệ cho toàn dân hy vọng qua đó làm một cuộc cách mạng cho xă hội Miền Nam. Theo quan điểm của Catton th́ Diệm và Nhu đă xử dụng chủ thuyết Nhân Vị để “phát huy một tổng hợp văn hóa cho Việt Nam” bằng cách khuyến khích “hướng về triết lư Á châu và tôn giáo” để mưu t́m một chính quyền “trung dung hầu bảo đảm phúc lợi chung cũng như quyền hạn của từng cá nhân.” (40) Cao Văn Luận, một trong những thành viên nội các cũ của Diệm nhớ lại rằng chủ thuyết đó đă thất bại. Ông cho rằng nhăn hiệu Nhân Vị của anh em họ Ngô thiếu nền tảng tư tưởng chính trị cổ truyền Việt Nam, và cũng chính v́ thế đă làm suy yếu điều mà Diệm tuyên bố ḿnh là một lănh tụ v́ dân. (41) Thế nhưng trong khi đang nỗ lực đặt nền móng cho một chính quyền v́ dân và tân tiến qua cuộc truất phế Bảo Đại, Diệm lại gắn chặt với những ư niệm của thời xa xưa bằng cách đề cao ư niệm về quyền lực theo truyền thống đông phương.

Mệnh Trời, một triết lư của Khổng Tử thừa hưởng được từ tư tưởng triết học Trung Hoa, có muôn vàn tác dụng khi đưa nó vào chính trị. Thuyết này nguyên thủy chủ trương người cai trị phải phục vụ người dân phù hợp với luân lư và đạo đức, thế nhưng những kẻ đi xâm lăng, những kẻ làm cách mạng cũng nhân danh Mệnh Trời để biện minh cho hành vi lật đổ của ḿnh. Stephen B. Young cho rằng “mệnh trời là trung tâm điểm của đời sống Việt Nam”, (42) người Việt tin rằng sự phi đạo đức trong đời sống công cũng như tư của người lănh đạo làm mất Mệnh Trời. (43) Stephen B. Young cho rằng “một khi người cai trị xa rời đạo đức” th́ cả xă hội phải chịu phải chịu sự trừng phạt của Trời qua những hiện tượng như mất mùa, chiến tranh, tham ô nhũng lạm cùng những thiên tai khác.

Tuy nhiên nhà xă hội học Pháp Paul Mus, chỉ rơ người dân Việt không thay đổi ḷng trung thành của họ một cách khinh xuất. Trái lại, họ thường chờ một dấu hiệu để biết chắc ư Trời hoặc đă trao phó hoặc rút lại thiên mệnh trước khi hỗ trợ một nhà cai trị nào hoặc một cuộc nổi dậy chống lại một vị hoàng đế nào. (44) Do thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh và hiểu biết chu kỳ tuần hoàn của lịch sử, người dân Việt Nam thường kiên nhẫn chờ xem có phải một chế độ cách mạng thật sự được trao phó thiên mệnh không? Theo quan điểm của Mus th́ thiên mệnh chỉ hiện rơ khi “có sự xuất hiện của một hệ thống chính trị mới thay thế những học thuyết cũ, những định chế và người cai trị chứng tỏ ổn định được xă hội.” (45)

Chỉ đến khi đó, nếu không, người Việt tránh ngả theo bên nào trong các cuộc tranh chấp quyền hành (nội bộ), v́ sợ lầm người và từ đó làm phật ư Trời.

Một học giả nghiên cứu về Khổng Tử cho rằng “Niềm tin về cuộc đời và số phận là do Trời đặt để khiến người ta tin vào thuyết định mệnh.” (46) Đ̣i hỏi phải có dấu hiệu rơ rệt của thiên mệnh không phải chỉ để khuyến khích người ta giữ thái độ trung lập, nhưng theo một số người, mà c̣n ngăn ngừa khả năng thỏa hiệp giữa những đối thủ chính trị nhằm thiết lập quyền hành và tái lập trật tự xă hội. Thật vậy, theo Peter J. Moody, “Không quốc gia nào theo văn hóa Khổng Mạnh lại dung thứ cho việc tranh chấp quyền bính.” (47) Cho đến khi Mệnh Trời được trao phó rơ ràng, các quốc gia thấm nhuần triết lư Khổng Mạnh thường lên án việc xáo trộn xă hội và bạo loạn. (48)

Mặc dù (thiên mệnh) có ảnh hưởng bao trùm ở Việt Nam, và lời giải thích về kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử, thiên mệnh (mà người ta nêu ra) vẫn c̣n quá nhỏ bé để giải thích thái độ chính trị của dân Việt (lúc bấy giờ). Gerald Hickey, một thành viên của Nhóm Cố Vấn Viện Đại Học Michigan ghi nhận rằng người Việt thường ứng xử thực tế thận trọng hơn. Dưới nhăn quan của ông, theo kinh nghiệm lịch sử, họ sợ chính quyền trả thù hơn là thần thánh phạt, họ trả lời câu hỏi để làm đẹp ḷng chính quyền hơn là nói thực ḷng họ. (49) Hoàn toàn không tương hợp với triết lư Khổng Mạnh Việt trong quá khứ, Keith Taylor cho rằng quan niệm Khổng Tử của người Việt Nam “là tạo ra một h́nh thức áp lực để ngăn ngừa sự bất tuân phục.” (50) Dù thế, theo sử gia R. B. Smith, “Miền Nam không bao giờ thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh hơn Miền Trung và Miền Bắc.” (51) Những rắc rối về mặt khái niệm và lư luận đă làm phức tạp thêm ư niệm Thiên Mệnh như là một sức mạnh chính trị. Nó thừa nhận rằng ngay tầng lớp thứ dân chứ không hẳn những nhà cai trị cũng phải hành xử theo quy tắc đạo đức thay v́ quyền lợi cá nhân. Xa hơn nữa, nó thừa nhận rằng tất cả người Việt Nam đều diễn giải những biểu hiện về đạo đức giống như nhau. Hơn thế nữa khi ứng dụng vào những biến động của thời kỳ hậu 1945 nó đ̣i hỏi một sự đồng nhất và hiểu biết như nhau về các biến động chính trị quốc gia của tất cả mọi công dân trong nước. Tuy vậy, các học giả xác quyết rằng quan niệm cổ xưa về thiên mệnh đă thúc đẩy hầu hết tầng lớp người Việt ở đô thị theo Tây học suốt thập niên 1970 và sau đó. (52) Các học giả này đúng ở một chừng mực nào đó. Di sản về triết lư Khổng Tử của Việt Nam trên thực tế đă là một thành tố trong quan niệm chính trị của người dân cho dù họ không sao giải thích cặn kẽ được.

Phương pháp tốt nhất để t́m hiểu một chuỗi những thành tố phức tạp đă thúc đẩy khối cử tri Việt Nam vào thời điểm (này) khi xă hội và chính trị thay đổi mau chóng – là khảo sát các tài liệu đă được ấn hành mà chúng tôi có được. Bằng cách nào mà các nhà chính trị, ở đây là Diệm, đă tận dụng quan niệm thiên mệnh để thuyết phục người dân phế bỏ Hoàng Đế và lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng cho cá nhân và mô thức chính quyền dân chủ mới của ông? Có hai giọng điệu thuyết phục, một là phương thức cổ truyền và cách kia – chắc chắn cảm hứng từ Tây Phương tràn ngập trong chiến dịch chống Bảo Đại năm 1955. Trước hết, chính quyền Nam Việt Nam và báo chí Sài G̣n đưa ra chiến dịch dài để làm mất tư cách của Bảo Đại và từ đó mặc nhiên ám chí rằng Trời đă lấy đi thiên mệnh đă ban cho Bảo Đại và hoàng tộc và trao cho Diệm – một lănh tụ đạo đức sáng ngời. (53) Thứ hai, những bài báo và lời tuyên bố của chính phủ tán dương những giá trị của chính quyền dân chủ và quyền tự quyết của người dân. Nói đảo ngược lại – là cần phải từ bỏ chế độ cũ mà họ gọi đó là phong kiến, chuyên chế làm tổn hại đến tinh thần quốc gia.

“Ông vua trác táng”

Giọng điệu đầu tiên của chiến dịch, Diệm và những người theo Diệm đă mô tả Bảo Đại như là một ông vua hư đốn về cả mặt đạo đức lẫn chính trị. Mặc dù trên thực tế Bảo Đại là một chính trị gia khôn khéo với tinh thần quốc gia kiên quyết, nhưng chính quyền Miền Nam (lúc bấy giờ) đă minh họa ông như là một kẻ tội lỗi và nhu nhược. Theo chiến dịch tuyên truyền, ông được mô tả như một kẻ hiếu sắc, rượu chè, tham lam và đần độn. Các nhà quan sát ghi nhận rằng những điều gán ghép này đă trực tiếp đưa tới (việc kết tội ông) thỏa hiệp với âm mưu tái lập chế độ thực dân, thông đồng với cộng sản và bao che cho những sứ quân “thoái hóa” và “phong kiến”. Nhân viên của Diệm và truyền thông Sài G̣n không tiếc lời phẫn nộ với Hoàng Đế trong việc loan truyền những thất bại và như thế chẳng c̣n chỗ để ai nghi ngờ việc ông ta đă bị tước đoạt mất thiên mệnh.

Trong tuần lễ trước ngày trưng cầu dân ư, đường phố Sài G̣n và các tỉnh rực rỡ với những bích chương, biểu ngữ, h́nh nộm Bảo Đại và rất nhiều kiểu sáng tạo để tố cáo Bảo Đại và khuyến khích người dân bỏ phiếu cho Diệm (xem h́nh 1 và 2). Một trong những khẩu hiệu tiêu biểu là “Bù nh́n Bảo Đại bán nước”, “Bảo Đại nuôi dưỡng ṣng bài, đĩ điếm”, “Hăy cảnh giác Bảo Đại gian ác, mê cờ bạc, gái, rượu chè, bơ sữa. Những ai bỏ phiếu cho Bảo Đại là phản bội quốc gia và bóc lột nhân dân.” Trong khi đó th́ “Dồn phiếu cho chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm là xây dựng một xă hội công bằng và hạnh phúc,” và “Chào mừng Ngô Chí Sĩ vị cứu tinh của dân tộc. Diệt cộng, truất phế Bảo Đại (bài phong) đả thực (dân) là nhiệm vụ công dân của một nước tự do.” (54)

Báo chí cung cấp cho người ủng hộ Diệm những cơ hội để tha hồ lên án Hoàng Đế một cách tận t́nh hơn những ǵ họ đă làm như đă nói ở trên. Vào Tháng Tám 1955, chủ bút nhật báo Thời Đại là Hồng Vân đă tấn công một cách cay độc vào tư cách đạo đức của Bảo Đại trên một loạt bài kéo dài ba tuần lễ về những chuyện t́nh giật gân của vị vua này. Hồng Vân khởi đầu bằng cách lên án những thủ đoạn láu cá của Bảo Đại tự đề cao ḿnh như là vị anh hùng dân tộc nhưng thực tế chỉ là “loài bọ hung nhơ bẩn măi quốc cầu vinh.” (55) Cũng theo Hồng Vân th́ Bảo Đại – tên húy là Vĩnh Thụy, không phải là con chính thức của Vua Khải Định. (56) Sở dĩ Bảo Đại được lọt vào hoàng gia chỉ hoàn toàn do may mắn. Nhiều người biết Vua Khải Định bất lực không thể có con, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nối dơi tông đường trong khi có hai người khác cũng đang tranh chấp việc nối ngôi tại triều đ́nh Huế. Rồi Hồng Vân mơ hồ (vaguely) viết rằng có thể hoàng gia đă ra một chỉ dụ tuyên bố rằng không một người nào không có khả năng sinh con đẻ cái lại có thể được chấp nhận là hoàng đế. Do đó bằng mọi giá Khải Định phải lấy một cung nữ có tên là Cúc (sau này là Huệ Phi) và sau đó th́ Bảo Đại ra đời vào ngày 22 Tháng 10, 1913. Cho dù Hồng Vân nói có một số chứng cớ cho rằng Bảo Đại không phải là con của Khải Định kể cả việc Khải Định đă hối lộ người cha thực của Bảo Đại để ông này im tiếng, nhưng điều đó không đủ để phủ nhận được việc Bảo Đại chính thức lên ngôi mà không có ai phản đối.

Hồng Vân mô tả Khải Định và hoàng huynh Đồng Khánh là nhu nhược, gầy ốm, không có khả năng sinh con và không thích gần đàn bà. C̣n ngược lại, Bảo Đại to lớn vụng về, có rất nhiều con và hiếu sắc. (57) Một mặt, tác giả cố t́nh so sánh sự khác biệt nổi bật giữa Khải Định và Bảo Đại để chứng minh rằng họ không cùng một ḍng giống. Mặt khác lại muốn ẩn dụ rằng hành vi dâm đăng của Bảo Đại vốn không phát xuất từ hoàng tộc cho nên đáng lẽ phải nhu nhược như cha của ông ta – chứ không phải là tay ăn chơi (playboy) như thế.

Phù hợp với tinh thần bài Pháp nở rộ ở Nam Việt Nam dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, Hồng Vân cho rằng việc Pháp nuôi dưỡng Bảo Đại từ lúc tấm bé là nguyên do khiến Bảo Đại thiếu đạo đức trong lănh vực t́nh ái. Bảo Đại chính yếu được nuôi dưỡng ở Paris bởi vợ chồng một cựu toàn quyền và Bảo Đại vẫn tiếp tục ở đó cho dù đă lên ngôi vào ngày 8 Tháng 1, 1926 lúc mới 13 tuổi. Vào lúc sắp sửa bước vào tuổi đôi mươi, thái hậu bắt đầu nghe được lời bàn tán rằng Bảo Đại đă học được thói yêu đương kiểu Pháp làm cho bà kinh sợ. Cũng theo những bài báo của Hồng Vân, thái hậu lo sợ rồi đây ai là người thừa tự, cúng tế các bậc tiên vương nếu con bà lấy vợ Pháp rồi đẻ ra một lô con mang hai ḍng máu. Người ta đồn đại rằng thái hậu đă viết thư cho cha mẹ nuôi của Bảo Đại nói rơ ư muốn của bà là Bảo Đại phải lấy một người vợ Việt Nam và phải coi chừng hành vi của con bà trong thời gian ở Pháp. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của thái hậu, Bảo Đại đă yêu một cô gái mang quốc tịch Pháp có tên Marie Jeanne Henriette Nguyễn Hữu Hào, người mà Hồng Vân mô tả “tuy là gái Việt nhưng hoàn toàn là Pháp và trung thành với Pháp.” (60) V́ cô gái này là người Thiên Chúa Giáo làm cho cả hoàng tộc lo ngại v́ họ tin chắc rằng Bảo Đại và gia đ́nh của ông ta sẽ bỏ truyền thống Phật Giáo để quay sang Thiên Chúa Giáo như thế là trốn tránh (shirking) bổn phận thờ cúng tổ tiên. (61)

Romano
01-09-2015, 14:27
Mặc mối quan tâm của hoàng tộc, hai người đă kết hôn vào ngày 24 Tháng 3, 1934 và Henriette từ đây mang tên Nam Phương Hoàng Hậu. Henriette tỏ ra thiếu bổn phận của người con dâu – không như điều mà Thái Hậu mong đợi, nhưng quả báo nhăn tiền. Sau khi sanh cho Bảo Đại ba con trai và hai con gái liên tục, cũng theo Hồng Vân, bà không c̣n giữ được thân thể mảnh khảnh như xưa nữa và không c̣n hấp dẫn đối với chồng. Sau một vài năm, Hoàng Đế quên mất lời thề chung thủy năm xưa và bay sang Pháp để tha hồ hú hí với đàn bà đẹp, đặc biệt là đàn bà Pháp. (62) Ông ta ăn nằm với một cô gái Pháp bán bar tên Everlyn Riva, sau đó th́ hết bà này tới bà khác, một vài bà chỉ là t́nh nhân, một vài bà là thứ phi và quên mất người vợ chính của ḿnh.

Hồng Vân viện dẫn những chuyện của thời đại quân chủ cũ của Việt Nam như Lê Thánh Tông và Mông Miệp (?) để đánh giá tính t́nh của Bảo Đại. Vua Lê Thánh Tông có 6 bà phi, trong đó có một bà người Trung Hoa. Và Mộng Miệp (?) có tới 78 con trai và 46 con gái với nhiều bà khác nhau. Theo truyền thống văn hóa và tục lệ, không thể trách cứ Bảo Đại về việc có nhiều bà, kể cả có vợ ngoại quốc. Nhưng tội của ông ta, theo Hồng Vân là tư cách xấu xa, không chung thủy của Bảo Đại, ở với bà nào rồi cũng phế bỏ, không giữ ǵn trách nhiệm của một vi lănh đạo tinh thần và chính trị của đất nước. Không giống như Lê Thánh Tông và Mộng Miệp (?) tác giả cho rằng Bảo Đại là kẻ đam mê cờ bạc, nghiện ngập và hiếu sắc, dan díu hết bà này tới bà khác và làm tổn hại tới danh dự của quốc gia. (63) Hơn thế nữa, do bản tính ham thích đàn bà Pháp, cộng thêm với sự thiếu nhạy bén chính trị làm cho các giới chức thực dân Pháp dễ sai bảo ông ta. Hồng Vân viết tiếp “Quư độc giả phải đồng ư với chúng tôi về điểm này, Bảo Đại chỉ là lá bài của Pháp – hoặc chính xác hơn nữa – của một số quan chức thực dân Pháp.” (64)

Chỉ bốn ngày trước cuộc trưng cầu dân ư, ban biên tập báo Thời Đại lại nhắc nhở độc giả về đời sống trụy lạc của Bảo Đại – như đă được viết ra bởi Hồng Vân trong Tháng 8 – qua bức tranh hí họa mô tả thời kỳ thơ ấu tẻ nhạt rồi sau đó là đời sống dâm đăng, tham danh hám lợi của Bảo Đại. Bất cứ ai đă xem qua bức tranh hư họa này th́ không thể nào quên được những h́nh ảnh sống động của một vị Hoàng Đế đắm ḿnh trong sắc dục, ăn nhậu, rượu chè và cờ bạc. Và người xem chắc chắn sẽ hiểu rơ ư nghĩa của phần cuối của bức hư họa với h́nh của Bảo Đại bị một lưỡi gươm đâm vào mắt bên cạnh hàng chữ 23 Tháng 10 – tức là ngày trưng cầu dân ư.

H́nh ảnh Bảo Đại ăn chơi trác táng chỉ là một trong những chiến dịch của Diệm nhằm bêu xấu Bảo Đại. Bên cạnh đó Bảo Đại c̣n là người phản quốc. Trước hết, Hồng Vân có ngụ ư khi gọi Bảo Đại là con cờ của Pháp để Diệm nhấn mạnh rằng Bảo Đại có tội v́ đă cam tâm làm đày tớ cho Pháp tạo điều kiện dễ dàng cho Pháp khẳng định quyền thống trị Việt Nam sau Đệ Nhị Thế Chiến. (65) Ủy Ban Trưng Cầu Dân ư đă ra một công bố tố cáo “Bảo Đại là vua bù nh́n, là nhà lănh đạo chia rẽ dân tộc, chia rẽ đất nước, đă bán đứng đất nước cho Pháp và Nhật nay lại cấu kết với thực dân và cộng sản bán nước một lần nữa.” (66) Về phần ḿnh, Bảo Đại trách cứ Trung Cộng, Liên-Sô và kết quả của Hiệp Định Genève là đă “bán rẻ” nửa phần Miền Bắc đất nước của ông cho chế độ nô lệ. Nhưng những lời kết án nói trên chỉ chứng Bảo Đại không những là vị vua bất tài mà c̣n là nhà lănh đạo không có thiện chí nh́n nhận trách nhiệm về những thất bại của ḿnh. (67)

Từ những cáo buộc nói trên, Bảo Đại coi như đă phạm tội chống lại Việt Nam là đă không tuân thủ Hiệp Định Genève. Đủ mọi thành phần – từ thường dân, lính tráng, các cơ quan của chính phủ và một loạt các nhóm chính trị của Miền Nam gửi cả đống thỉnh nguyện thư cầu Diệm truất phế ngôi vị quốc trưởng của Bảo Đại. (68) Những thỉnh nguyện thư này, chắc chắn là ép buộc hơn là tự động, bày tỏ sự phẫn nộ, kêu gọi truất phế Bảo Đại trên luận cứ Bảo Đại đă liên hệ tới một loạt những hoạt động chống chính quyền xảy ra từ năm trước. Những người viết thỉnh nguyện thư này cáo buộc Bảo Đại đă cấu kết với tướng cứng đầu Nguyễn Văn Hinh – Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia toan lật đổ Diệm vào cuối năm 1954. (69) Hơn thế nữa, họ kết tội Bảo Đại là đă hỗ trợ các giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên phá hoại chính phủ của Diệm vào Tháng 3 – 4 năm 1955. (70) Một vài nhóm cáo buộc rằng sở dĩ Bảo Đại tham gia vào nhóm phản quốc này là v́ ông ta không đủ đầu óc khôn ngoan để chỉ định một người đạo đức. Thay vào đó ông ta đă đưa vào chính quyền những kẻ hư đốn chỉ biết vơ vét cho đầy túi tham. Dù sao đi nữa, những cáo buộc thân-Pháp, chống-Diệm không đ̣i hỏi phải suy nghĩ nhiều bởi v́ Hoàng Đế thật sự hợp tác với người Pháp để thay thế Diệm bằng một chính phủ quốc gia khác giữa cơn khủng hoảng giáo phái vào mùa Thu. (72) Thế nhưng việc này khiến những người theo chủ nghĩa xét lại coi đây như thái độ phản bội, thiếu khôn ngoan chính trị giữa lúc chế độ của Diệm lung lay.

Những người theo Diệm coi hành vi bán nước không thể tha thứ được của Bảo Đại là cấu kết với Bắc Việt chứ không phải chuyện hợp tác với Thực Dân Pháp hay xúi dục các giáo phái chống lại Diệm. Vào Tháng Chín, 1955 trong cuộc phỏng vấn với Tạp Chí Collier, Bảo Đại xác nhận sẽ có cuộc tiếp xúc với Việt Cộng. Sự kiện này được nội bộ của Diệm khuếch đại thành việc Bảo Đại đang có kế hoạch đưa đất nước vào ṿng nô lệ (cộng sản) một lần nữa. (73) Hoàng Đế luôn luôn không giữ đúng vị thế của ḿnh trong những cuộc tranh chấp chính trị của nội t́nh Miền Nam, nhưng âm mưu cấu kết với cộng sản th́ hoàn toàn bất chính. V́ vậy Diệm nhất quyết phải tước bỏ quyền hành của Bảo Đại.

Công bố dân chủ

Rơ ràng Diệm đă dựa trên luân lư Khổng Mạnh để tấn công vào nhân cách của Bảo Đại như đă nói ở trên. Bảo Đại bị cáo buộc là thiếu luân lư và đạo đức, điều này khiến Việt Nam suy yếu và lâm vào ṿng nô lệ. Mặc dù những người của Diệm có thể đă giải thích như thế này trong khuôn phép của Khổng giáo, nhưng Diệm và đồng minh của ông ta chưa bao giờ công khai tuyên bố Bảo Đại đă bị tước đoạt thiên mệnh. Partha Chatterjee – một lư thuyết gia thời hậu-thuộc- địa viết rằng “Ngay cả những chế độ phi dân chủ nhất hiện nay cũng đều tuyên bố quyền hành của họ không phải phát xuất từ thần linh, hoặc từ quyền nối ngôi hoặc đi chinh phạt mà do ư chí toàn dân.” (74) Cũng vậy, Diệm t́m cách chứng tỏ rằng trách nhiệm chọn lựa lănh đạo là do toàn dân quyết định.

Thật vậy, nếu Bảo Đại một khi đă mất thiên mệnh th́ người ta có thể kết luận từ những chiến dịch của Diệm là nền quân chủ cũng không c̣n được người dân ưa chuộng nữa. Diệm và đồng minh của ông ta là tiêu biểu cho nền dân chủ và là người lèo lái để chống lại nền quân chủ xấu xa. Trong khi các sử gia có khuynh hướng (traditionally) cho rằng những lời tuyên truyền ồn ào (rhetoric) về dân chủ của Diệm là để trực tiếp nhắm vào Hoa Kỳ. Những tài liệu Việt Ngữ cho thấy những ư tưởng này được quảng bá rộng răi trong khối quần chúng dưới vĩ tuyến 17. (75) Thủ Tướng đă dùng cuộc trưng cầu dân ư như là một cơ hội để khởi xướng một chiến dịch rộng răi giáo dục người dân Miền Nam về sự tốt đẹp của nền dân chủ và sự độc ác của chế độ phong kiến.

Vào ngày 6 Tháng 10, khi chính thức công bố kế hoạch của cuộc trưng cầu dân ư, Diệm đă mô tả đây là tiếng kêu khẩn thiết từ người dân chống lại Bảo Đại. Diệm đưa ra vô số kiến nghị từ các nhóm chính trị, tôn giáo và quần chúng gửi lên chính phủ thỉnh cầu tổ chức cuộc trưng cầu dân ư để truất phế Bảo Đại và ổn định t́nh h́nh chính trị Miền Nam. Chính v́ thế mà Thủ Tướng đă quảng cáo cuộc trưng cầu dân ư như là một đáp ứng cho những đề nghị “dân chủ và hợp pháp”. (76)
Tuy nhiên Diệm đă mường tượng thấy cuộc trưng cầu dân ư không phải là một h́nh thức đơn thuần. Nó có thể là sự khởi đầu gia nhập vào thế giới tự do. Diệm tuyên bố “Nó chính là bước khởi đầu của người dân được tự do hành xử quyền hạn chính trị.” (77) Trong bản tuyên bố của chính phủ vào ngày 19-10-1955 Diệm đă tha thiết kêu gọi người dân hăy nắm lấy những quyền hạn dân chủ này: “Quốc dân đồng bào, hăy mạnh dạn bày tỏ ư chí của ḿnh! Hăy dũng cảm tiến lên con đường Tự Do, Dân Chủ và Độc Lập!” (78) Và trước cuộc trưng cầu dân ư một ngày, Diệm đă kêu gọi trên đài phát thanh, “Ngày 23 Tháng Mười tới đây là ngày đầu tiên trong lịch sử đất nước, nam cũng như nữ được hành xử một trong những quyền hạn của người dân trong chế độ dân chủ, đó là quyền bỏ phiếu.” (79)

V́ Việt Nam không có truyền thống chính trị dân cử cho nên Bộ Thông Tin của Miền Nam phải vạch ra (chỉ rơ cho người dân) nếu Diệm thật sự mong muốn người dân hành xử quyền đầu phiếu. Ban tham mưu khởi đầu chiến dịch với những mô tả cặn kẽ thế nào là một chính quyền dân chủ và cấu trúc của nó. Một tờ truyền đơn do chính quyền tung ra nêu rơ câu hỏi tại sao nhất thiết phải tổ chức cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại cho dù người dân và phe phái của Diệm đă yêu cầu Bảo Đại thoái vị vào Tháng Tư và Tháng Năm. Truyền đơn giải thích rằng “Truất phế Bảo Đại là hành đông bức thiết và phải theo đúng tiến tŕnh dân chủ để truyền một mệnh lệnh rơ ràng cho đối thủ không thể chối căi được.” (80)

Phần c̣n lại của tờ truyền đơn đă tiết lộ cho thấy một số người Việt Nam có thể có hiểu biết rất ít về tiến tŕnh dân chủ và thậm chí về cả chính quyền trung ương. Tờ truyền đơn giải thích “Cuộc trưng cầu dân ư là phương pháp cực kỳ dân chủ theo đó người dân có thể bày tỏ nghĩ của ḿnh bằng cách bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như chọn lựa thể chế cho quốc gia, chọn lựa người lănh đạo đất nước…” Rồi nó tiếp tục mô tả sự quan trọng của việc ổn định vai tṛ của người lănh đạo quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam, nửa phần đất nước đang trong ṿng nô lệ cộng sản, c̣n nửa phần tự do kia th́ chưa có hiến pháp hoặc bầu cử quốc hội. C̣n Bảo Đại th́ bị người dân oán ghét, thế giới khinh miệt cho nên không thích hợp với nhu cầu của đất nước đang cần một vị lănh đạo cương quyết và có khả năng. (81) V́ lư do nêu trên, theo người của Diệm, người dân phải có trách nhiệm truất phế Bảo Đại vào ngày 23 Tháng Mười.

Trong những tháng trước cuộc bầu phiếu, báo chí Sài G̣n cùng với Bộ Thông Tin lên đài phát thanh quảng bá về chế độ dân chủ. Bài xă luận của tờ Thời Luận viết “Dưới chế độ độc tài, cộng sản hoặc phát-xít, người dân không bày tỏ ḷng trung thành với nhà vua hoặc ḷng hiếu thảo với cha mẹ mà là trung thành với đảng. Chính v́ thế mà người dân không được phép nói đến quyền lợi cá nhân hoặc những nhu cầu thiết yếu cần phải được thỏa măn.” (82) Tác giả bài xă luận tiếp tục nói rằng dưới chế độ dân chủ th́ người dân có bầu cử tự do, được khuyến khích chỉ trích chính quyền, và chỉ đ̣i hỏi hy sinh khi nào sự hy sinh đó đem lại lợi ích cho người dân. V́ thế dân chủ là bước đi lên từ chế độ phong kiến cũ, c̣n với chế độ cộng sản th́ hiển nhiên cho thấy là một sự thoái bộ lớn lao.

Diệm và những người ủng hộ Diệm luôn luôn nói rằng cuộc cách mạng dân chủ này là một phong trào quốc gia rộng lớn. Cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa lẫn Diệm đều tuyên bố rằng chế độ của ḿnh là chính thống cho toàn cơi Việt Nam, trên và dưới vĩ tuyến 17. Theo cộng sản Bắc Việt th́ chính quyền Miền Nam thực chất chỉ là thuộc địa kiểu mới của Hoa Kỳ. (83) C̣n Diệm th́ đánh trả bằng lư luận tương tự: Cộng sản cố hữu là chế độ độc tài, không màng tới ư nguyện của người dân. Tệ hại hơn nữa, Bắc Việt hiển nhiên nằm dưới sự khống chế của thực dân Trung Cộng và Sô-Viết. Báo chí Sài G̣n đăng tải những chuyện khủng khiếp về những cuộc thảm sát tại Miền Bắc do những người tỵ nạn hiện đang sống trong những trại định cư kể lại để cho thấy bản chất thật sự của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Bộ tham mưu của Diệm, v́ thế khẳng định quyền thiết lập một chính phủ chính thống cho toàn cơi Việt Nam và chờ đợi một thời cơ giải phóng Miền Bắc, thống nhất đất nước.

Thật vậy, một bài báo trên tờ Lửa Sống ở Sài G̣n đă khẳng định cộng sản là trở ngại chính yếu cho việc thiết lập một chính quyền dân chủ ; là cấu trúc phục vụ và bảo vệ quyền lợi của người dân. (84) Bất cứ ai, trong trường hợp này là Bảo Đại, nếu cố t́nh hợp tác với cộng sản, thực dân hoặc phong kiến là đi ngược lại với quyền lợi của đất nước và làm nguy hại tới phúc lợi và tương lai ổn định của Việt Nam. Con đường duy nhất để vứt bỏ quá khứ lạc hậu, chế độ tham nhũng là bỏ phiếu để đề cao người đă bày tỏ tinh thần chống cộng.

Những quảng bá ồn ào về dân chủ và sự lên án cộng sản của Diệm dùng trong khuôn khổ của cuộc trưng cầu dân ư có mục đích xa hơn là hạ uy tín Bảo Đại. Bên cạnh việc giải thoát Nam Việt Nam ra khỏi anh hưởng của Pháp thông qua Bảo Đại, Diệm c̣n nh́n thấy trưng cầu dân ư là phương tiện chính thống để từ chối cuộc tổng tuyển cử qui định bởi Hiệp Định Genève. (85) Bằng cách mô tả chế độ của Miền Nam là một nền dân chủ và lên án nhà cầm quyền Miền Bắc là độc tài, Diệm hy vọng lấy được sự hỗ trợ của quần chúng trong nước và quốc tế cho việc Diệm không muốn thương thuyết với cộng sản.

Lùi lại thời gian trước vào cuối Tháng Sáu, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Miền Nam Vũ Văn Mẫu đă cho Liên Hiệp Quốc biết là chính quyền Miền Nam t́m cách thống nhất đất nước qua những cuộc bầu cử tự do và dân chủ. Tuy nhiên ông ta nhấn mạnh rằng chính quyền Miền Nam là “chính quyền hợp pháp duy nhất của Việt Nam” cho nên sẽ theo đuổi việc thống nhất đất nước qua những cuộc bầu cử Quốc Hội chứ không phải là tham dự cuộc tổng tuyển cử do Ủy Hội Kiếm Soát Quốc Tế tổ chức. (86) Trong khi Hoa Kỳ âm thầm hỗ trợ những nỗ lực của Nam Việt Nam để tránh tổ chức tổ chức tổng tuyển cử, họ thúc dục Diệm bắt đầu tham khảo với Miền Bắc để tạo vẻ bề ngoài là tuân thủ Hiệp Định Genève.

Nhưng vào ngày 16 Tháng Bảy 1955, chỉ mười ngày sau khi công khai hóa kế hoạch trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại, Diệm đích thân tuyên bố không thương thuyết với Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa về vấn đề tổng tuyển cử. Ông ta nói “Chúng tôi không bị ràng buộc bởi Hiệp Định Genève mà hiệp định này đi ngược với ư muốn của toàn dân Việt Nam.” V́ thế ông ta kêu gọi người dân dưới vĩ tuyến 17 hỗ trợ cho sứ mạng của ông là thiết lập một chính quyền tự do, dân chủ, độc lập để đối đầu với chế độ của Hồ Chí Minh. (88) Hệ thống báo chí bị kiểm soát chặt chẽ tại Sài G̣n đă liên tục hỗ trợ cho lập trường của Diệm và coi Hiệp Định Genève là “bán nước” và nhấn mạnh rằng việc buộc Miền Nam phải tham gia vào cuộc tổng tuyển cử như dự trù là một bước thoái bộ nghiêm trọng và nô dịch hóa đất nước. (89)

Theo những người chống cộng ở Miền Nam, cộng sản cố hữu vốn phản dân chủ do đó chính quyền Miền Bắc không đủ tư cách để tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do. Vào ngày 15 Tháng Tám 1955 Nghiêm Thị Xuân (hay Nghiêm Xuân Thiện?) một người ủng hộ Diệm, một người chống cộng mạnh mẽ và là chủ nhiệm tờ Thời Luận, (90) tờ tuần báo có số phát hành nhiều nhất tại Sài G̣n đă bảo vệ lập trường này trong một bài nhan đề “Làm Thế Nào Để Tổ Chức Bầu Cử Tự Do Tại Việt Nam”. Ông ta tố cáo cán binh cộng sản đă vào nhà dân trước cuộc bầu cử 1946 của Việt Minh và buộc người dân phải bỏ phiếu cho những ứng viên cộng sản đă được lựa chọn trước. Vào ngày bỏ phiếu, những cán binh này đi theo người dân tới pḥng phiếu để theo dơi xem người dân có làm đúng như vậy không. Nghiêm kết luận rằng “Không chính quyền quốc gia hay người dân xứ tự do nào lại có thể chấp nhận cuộc bầu cử vô nghĩa như vậy.” (91)

Trong chiến dịch trưng cầu dân ư Tháng Mười, Diệm né tránh tập trung vào cuộc tổng tuyển cử mà chú tâm vào cuộc bầu cử Quốc Hội dự trù vào đầu năm 1956 và Hiến Pháp sẽ do những dân biểu mới đắc cử được tuyển chọn để soạn thảo. Diệm liên tục quảng cáo cuộc trưng cầu dân ư 23 Tháng 10 chỉ là một trong những bước khởi đầu cần thiết để thiết lập nền dân chủ. Tiến tŕnh dân chủ chỉ hoàn tất khi Hiến Pháp được phê chuẩn. (92)

Các giới chức Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ nỗ lực của Diệm nhằm tránh cuộc tổng tuyển cử bằng cách thiết lập cuộc bầu cử Quốc Hội cho Miền Nam nhưng lại dè dặt về những kế hoạch mà Diệm đang làm. Kenneth Young nói rằng “Một quốc hội cho Việt Nam Tự Do là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ cuộc cân nhắc để lấy ư kiến người Việt Nam cũng như những cuộc bầu cử cho toàn dân Việt Nam” (all-Vietnamese elections). Nhưng Kenneth lo ngại về những cuộc bầu cử dân chủ mà kết quả không sao tiên đoán được tại những quốc gia mới độc lập và khả năng tiềm tàng có thể làm suy yếu chế độ của Diệm vốn đă mong manh. Từ đó Kenneth cảnh báo, “Tôi ngần ngại v́ Hoa Kỳ và người bạn của họ (Nam Việt Nam) đang đẩy người dân Việt Nam xuống một con đường mà không sao quay trở lại được nữa (no return).” (94)

Romano
01-09-2015, 14:27
C̣n Đại Sứ Reinhardt cũng đă phát biểu sự dè dặt về những rắc rối trong mối quan hệ có thể xảy ra do việc Diệm truất phế Bảo Đại và phê chuẩn hiến pháp bằng cuộc phổ thông đầu phiếu. Ông nói “Thủ tục trưng cầu dân ư rơ ràng là thiếu dân chủ (clearly less democratic) bằng việc bầu cử một quốc hội để quyết định vấn đề Bảo Đại và tân hiến pháp.” (95) Những quan tâm của Đại Sứ Reinhart phản ảnh mối bận tâm khá nhiều của người Hoa Kỳ đối với dư luận không tốt mà Ṭa Bạch Ốc dự đoán về phản ứng đối với cuộc trưng cầu dân ư rơ ràng là phản dân chủ của Diệm. Ông Đại Sứ Hoa Kỳ cảnh báo “Nhà cầm quyền đă khống chế cuộc trưng cầu dân ư và không tạo cơ hội cho đối thủ có quyền điều trần và những yếu tố phản dân chủ khác mà báo chí ngoại quốc tại Sài G̣n không phải không biết về điều này.” (96) Ông nhấn mạnh rằng sẽ là điều thiếu khôn ngoan cho các giới chức Hoa Kỳ khi công khai phát biểu rằng rằng cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại là sự bày tỏ ư chí của người dân Việt Nam một cách tự do và dân chủ. Thay vào đó, Đại Sứ Reinhard đưa ra lời cố vấn là Hoa Kỳ đơn thuần mong muốn tương lai của chính quyền Việt Nam là vấn đề nội bộ tùy thuộc vào quyết định của toàn dân. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă đồng ư và vào ngày 20 tháng Mười, phát ngôn viên của Bộ Trưởng Ngoại Giao Foster Dulles đưa ra bản công bố với những lời lẽ tương tự như vậy. (97) Dường như Hoa Kỳ chọn lựa thái độ giảm nhẹ tính dân chủ của cuộc trưng cầu dân ư để tránh những lúng túng về chính trị khi các quan sát viên quốc tế thấy rơ bức màn dân chủ của Diệm đang mỏng dần (wearing thin).

23 tháng 10

Vào giờ phút cử tri Miền Nam Việt Nam tới địa điểm bỏ phiếu vào ngày 23 Tháng Mười, chính phủ của Diệm đă đă thiết lập một kế hoạch điều hành và ghi kết quả của cuộc bầu cử. Ngay sau khi Thủ Tướng loan báo ngày trưng cầu dân ư vào 6 Tháng Mười th́ chính quyền đă công bố những chi tiết cụ thể, quan trọng cho việc bỏ phiếu. Mặc dù những điều khoàn này xem ra quá thường dưới con mắt của người Tây Phương ở thế kỷ XXI nhưng nó lại rất mới lạ và quan trọng với cử tri Việt Nam vào thời điểm 1955. Trong một nỗ lực bảo đảm phổ thông đầu phiếu, hoặc ít ra bề ngoài là như vậy, tất cả gái trai trên 18 tuổi đă ghi danh trong cuộc kiểm tra dân số mới đây đều có quyền đi bầu và bỏ phiếu kín. Theo sự kiểm kê cuối cùng của chính phủ, tổng số cử tri ghi danh là 5,335,688 người. (98) Để bảo đảm chính xác và ngăn ngừa gian lận, chính phủ ra lệnh cho các giới chức địa phương thiết lập các địa điểm bỏ phiếu riêng cho mỗi 1000 cử tri. (99)

Khi bước vào pḥng phiếu, cử tri phải xuất tŕnh thẻ căn cước để nhận phiếu bầu và một phong b́. Cử tri được hướng dẫn tách đôi lá phiếu có in h́nh người mà ḿnh định bầu cử, bỏ vào phong b́, rồi tŕnh cho nhân viên điều hành pḥng phiếu xem trước khi bỏ vào thùng. Sau đó cử tri vứt nửa lá phiếu có in h́nh mà người ḿnh không bầu xuống dưới đất hoặc vào thùng rác. Cho dù quy luật bầu cử bề ngoài có vẻ công bằng như thế, nhưng lá phiếu ném xuống đất cho thấy Diệm là người chắc chắn được chọn lựa. (xem h́nh 4) Phía bên trái, lồng trong khung màu xanh, màu xui xẻo (unauspiciopus) là h́nh Vua Bảo Đại trong bộ quốc phục, béo ph́, mặt mũi tối tăm, bên dưới có hàng chữ “Tôi không truất phế Bảo Đại và không bầu cho Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng thống để lănh nhiệm vụ tổ chức một chính quyền dân chủ.” Phía bên phải, lồng trong khung màu đỏ, màu hên màu may mắn, là h́nh Ô. Diệm trong bộ Âu phục, mặt mũi tươi cười, sáng sủa làm cho mọi người ngưỡng mộ, bên dưới có hàng chữ “Tôi đồng ư truất phế Bảo Đại và bầu cho Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng thống để lănh nhiệm vụ tổ chức một chính quyền dân chủ” (100). Trùm t́nh báo CIA ở Việt Nam lúc bấy giờ là Edward Lansdale nhớ lại là đă cố vấn cho Diệm in màu trên lá phiếu để ảnh hưởng mạnh mẽ tới người dân mà không cần nói tới chuyện mê tín hoặc phong tục tập quán. Tuy nhiên, Lansdale nói rằng ông ta đă yêu cầu Diệm phải dùng một tấm h́nh đẹp của Bảo Đại để cho cuộc bầu cử có giá trị. (101) Hơn thế nữa, cũng có rất ít bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ thực sự quan tâm đến những thủ tục bầu phiếu do Diệm đặt ra trước ngày trưng cầu dân ư.

Nói chung, cho dù bản chất của lá phiếu đă có ư hướng dẫn (gợi ư) cho cử tri, bộ tham mưu của Diệm cũng đă đưa ra một thủ tục kiểm phiếu vô tư. Khi mọi người đă đi bầu xong, nhân viên pḥng phiếu được hướng dẫn đặc biệt về thủ tục kiểm phiếu vào báo cáo kết quả. Quy định của chính phủ nói rơ làm thế nào để xác định một lá phiếu hợp lệ, khi nào báo cáo và báo cáo cho ai. Ít ra trên mặt báo chí, chính quyền cũng đề ra những bước tổng quát để ngăn chặn bầu phiếu gian lận. Tuy nhiên, nói cho thực ra, với khối lượng vận động cho một phía, với bầu không khí chống Bảo Đại hoặc những ngăn chặn về chính trị theo quan niệm Khổng giáo – cũng có thể giải thích sự thắng lợi 98 % của Diệm trong bối cảnh chính trị hỗn tạp của Miền Nam. Có thể sự mua chuộc và đe dọa đă đóng vai tṛ quan trọng trong tiến tŕnh này.

tm