Romano
01-09-2015, 14:26
Vận động theo kiểu cổ truyền và tân tiến
Những tài liệu c̣n lưu trữ chỉ rơ chiến dịch vận động cho cuộc trưng cầu dân ư 23 tháng 10 hoàn toàn một chiều và ai cũng đoán trước được kết quả như thế nào. Tuy nhiên qua đó nó cho thấy nỗ lực của Diệm cố h́nh thành một tinh thần quốc gia cho Miền Nam để đối đầu với ư thức hệ cộng sản. Chiến dịch vận động ồn ào đầy khẩu hiệu của Thủ tướng mùa thu năm 1955 đă hé mở cho thấy không khí chính trị của miền Nam khi Diệm lèo lái một đất nước từ quá khứ cổ truyền và nền hành chính thuộc địa qua nền độc lập giữa mưu cầu trước mắt là canh tân và thống nhất đất nước. Những học giả phương tây từ thập niên 1950 đă nhận ra thuyết thiên mệnh (mandate of heaven) là động lực thúc đẩy đằng sau quan niện chính trị cổ truyền. Diệm và cả những đối thủ đều ôm lấy quan niệm này cho dù đang nỗ lực cải cách chính trị bằng cách đặt nền tảng dân chủ với sự tham gia của toàn dân. Những tư tưởng (dân chủ) này hoàn toàn vay mượn từ Âu châu và Hoa Kỳ bởi những nhà cải cách suốt thế kỷ 20 do tiến tŕnh tự ư thức của nền văn minh đă được sử gia Mark Bradley (37) mô tả rất kỹ lưỡng.
Mới đây những sự nghiên cứu sâu xa về lịch sử từ những tài liệu Việt ngữ cho thấy Diệm đă trộn lẫn giữa chính trị cổ truyền với những quan niệm chính trị tân tiến để h́nh thành một chế độ chính trị đặc biệt cho miền Nam. Phillip Catton trong bài chuyên khảo về quốc sách Ấp Chiến Lược của Miền Nam cho rằng “tư tưởng của Diệm bắt nguồn từ quan niệm và tập quán cũ, nhưng ông ta bắt đầu xây dựng từ năm 1954 một kiểm mẫu quốc gia mới (mô phỏng theo Tây phương) hơn là kiểu mẫu thời tiền thuộc địa.” (38) Cũng nhận xét như thế, Edward Miller cho rằng Diệm “vừa không phải là một anh hùng thần thánh của đất nước mà cũng không phải là một nhà chuyên quyền biết uyển chuyển cuối cùng chết v́ khư khư lấy quan niệm cai trị lỗi thời.” (39)
Cả Catton và Miller đều biểu tỏ rằng trong những năm bao quanh cuộc trưng cầu dân ư Tháng 10, Diệm và Nhu đă cố gắng làm sáng tỏ ư nghĩa của một chủ thuyết thật khó hiểu, đó là thuyết Nhân Vị (personalism) vay mượn từ một người Pháp là Emmanuel Mournier rồi làm cho nó thích nghi với t́nh h́nh Việt Nam. Miller chỉ rơ rằng vào năm 1957 chế độ của Diệm đă đặt Chủ Thuyết Nhân Vị như là một ư thức hệ cho toàn dân hy vọng qua đó làm một cuộc cách mạng cho xă hội Miền Nam. Theo quan điểm của Catton th́ Diệm và Nhu đă xử dụng chủ thuyết Nhân Vị để “phát huy một tổng hợp văn hóa cho Việt Nam” bằng cách khuyến khích “hướng về triết lư Á châu và tôn giáo” để mưu t́m một chính quyền “trung dung hầu bảo đảm phúc lợi chung cũng như quyền hạn của từng cá nhân.” (40) Cao Văn Luận, một trong những thành viên nội các cũ của Diệm nhớ lại rằng chủ thuyết đó đă thất bại. Ông cho rằng nhăn hiệu Nhân Vị của anh em họ Ngô thiếu nền tảng tư tưởng chính trị cổ truyền Việt Nam, và cũng chính v́ thế đă làm suy yếu điều mà Diệm tuyên bố ḿnh là một lănh tụ v́ dân. (41) Thế nhưng trong khi đang nỗ lực đặt nền móng cho một chính quyền v́ dân và tân tiến qua cuộc truất phế Bảo Đại, Diệm lại gắn chặt với những ư niệm của thời xa xưa bằng cách đề cao ư niệm về quyền lực theo truyền thống đông phương.
Mệnh Trời, một triết lư của Khổng Tử thừa hưởng được từ tư tưởng triết học Trung Hoa, có muôn vàn tác dụng khi đưa nó vào chính trị. Thuyết này nguyên thủy chủ trương người cai trị phải phục vụ người dân phù hợp với luân lư và đạo đức, thế nhưng những kẻ đi xâm lăng, những kẻ làm cách mạng cũng nhân danh Mệnh Trời để biện minh cho hành vi lật đổ của ḿnh. Stephen B. Young cho rằng “mệnh trời là trung tâm điểm của đời sống Việt Nam”, (42) người Việt tin rằng sự phi đạo đức trong đời sống công cũng như tư của người lănh đạo làm mất Mệnh Trời. (43) Stephen B. Young cho rằng “một khi người cai trị xa rời đạo đức” th́ cả xă hội phải chịu phải chịu sự trừng phạt của Trời qua những hiện tượng như mất mùa, chiến tranh, tham ô nhũng lạm cùng những thiên tai khác.
Tuy nhiên nhà xă hội học Pháp Paul Mus, chỉ rơ người dân Việt không thay đổi ḷng trung thành của họ một cách khinh xuất. Trái lại, họ thường chờ một dấu hiệu để biết chắc ư Trời hoặc đă trao phó hoặc rút lại thiên mệnh trước khi hỗ trợ một nhà cai trị nào hoặc một cuộc nổi dậy chống lại một vị hoàng đế nào. (44) Do thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh và hiểu biết chu kỳ tuần hoàn của lịch sử, người dân Việt Nam thường kiên nhẫn chờ xem có phải một chế độ cách mạng thật sự được trao phó thiên mệnh không? Theo quan điểm của Mus th́ thiên mệnh chỉ hiện rơ khi “có sự xuất hiện của một hệ thống chính trị mới thay thế những học thuyết cũ, những định chế và người cai trị chứng tỏ ổn định được xă hội.” (45)
Chỉ đến khi đó, nếu không, người Việt tránh ngả theo bên nào trong các cuộc tranh chấp quyền hành (nội bộ), v́ sợ lầm người và từ đó làm phật ư Trời.
Một học giả nghiên cứu về Khổng Tử cho rằng “Niềm tin về cuộc đời và số phận là do Trời đặt để khiến người ta tin vào thuyết định mệnh.” (46) Đ̣i hỏi phải có dấu hiệu rơ rệt của thiên mệnh không phải chỉ để khuyến khích người ta giữ thái độ trung lập, nhưng theo một số người, mà c̣n ngăn ngừa khả năng thỏa hiệp giữa những đối thủ chính trị nhằm thiết lập quyền hành và tái lập trật tự xă hội. Thật vậy, theo Peter J. Moody, “Không quốc gia nào theo văn hóa Khổng Mạnh lại dung thứ cho việc tranh chấp quyền bính.” (47) Cho đến khi Mệnh Trời được trao phó rơ ràng, các quốc gia thấm nhuần triết lư Khổng Mạnh thường lên án việc xáo trộn xă hội và bạo loạn. (48)
Mặc dù (thiên mệnh) có ảnh hưởng bao trùm ở Việt Nam, và lời giải thích về kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử, thiên mệnh (mà người ta nêu ra) vẫn c̣n quá nhỏ bé để giải thích thái độ chính trị của dân Việt (lúc bấy giờ). Gerald Hickey, một thành viên của Nhóm Cố Vấn Viện Đại Học Michigan ghi nhận rằng người Việt thường ứng xử thực tế thận trọng hơn. Dưới nhăn quan của ông, theo kinh nghiệm lịch sử, họ sợ chính quyền trả thù hơn là thần thánh phạt, họ trả lời câu hỏi để làm đẹp ḷng chính quyền hơn là nói thực ḷng họ. (49) Hoàn toàn không tương hợp với triết lư Khổng Mạnh Việt trong quá khứ, Keith Taylor cho rằng quan niệm Khổng Tử của người Việt Nam “là tạo ra một h́nh thức áp lực để ngăn ngừa sự bất tuân phục.” (50) Dù thế, theo sử gia R. B. Smith, “Miền Nam không bao giờ thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh hơn Miền Trung và Miền Bắc.” (51) Những rắc rối về mặt khái niệm và lư luận đă làm phức tạp thêm ư niệm Thiên Mệnh như là một sức mạnh chính trị. Nó thừa nhận rằng ngay tầng lớp thứ dân chứ không hẳn những nhà cai trị cũng phải hành xử theo quy tắc đạo đức thay v́ quyền lợi cá nhân. Xa hơn nữa, nó thừa nhận rằng tất cả người Việt Nam đều diễn giải những biểu hiện về đạo đức giống như nhau. Hơn thế nữa khi ứng dụng vào những biến động của thời kỳ hậu 1945 nó đ̣i hỏi một sự đồng nhất và hiểu biết như nhau về các biến động chính trị quốc gia của tất cả mọi công dân trong nước. Tuy vậy, các học giả xác quyết rằng quan niệm cổ xưa về thiên mệnh đă thúc đẩy hầu hết tầng lớp người Việt ở đô thị theo Tây học suốt thập niên 1970 và sau đó. (52) Các học giả này đúng ở một chừng mực nào đó. Di sản về triết lư Khổng Tử của Việt Nam trên thực tế đă là một thành tố trong quan niệm chính trị của người dân cho dù họ không sao giải thích cặn kẽ được.
Phương pháp tốt nhất để t́m hiểu một chuỗi những thành tố phức tạp đă thúc đẩy khối cử tri Việt Nam vào thời điểm (này) khi xă hội và chính trị thay đổi mau chóng – là khảo sát các tài liệu đă được ấn hành mà chúng tôi có được. Bằng cách nào mà các nhà chính trị, ở đây là Diệm, đă tận dụng quan niệm thiên mệnh để thuyết phục người dân phế bỏ Hoàng Đế và lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng cho cá nhân và mô thức chính quyền dân chủ mới của ông? Có hai giọng điệu thuyết phục, một là phương thức cổ truyền và cách kia – chắc chắn cảm hứng từ Tây Phương tràn ngập trong chiến dịch chống Bảo Đại năm 1955. Trước hết, chính quyền Nam Việt Nam và báo chí Sài G̣n đưa ra chiến dịch dài để làm mất tư cách của Bảo Đại và từ đó mặc nhiên ám chí rằng Trời đă lấy đi thiên mệnh đă ban cho Bảo Đại và hoàng tộc và trao cho Diệm – một lănh tụ đạo đức sáng ngời. (53) Thứ hai, những bài báo và lời tuyên bố của chính phủ tán dương những giá trị của chính quyền dân chủ và quyền tự quyết của người dân. Nói đảo ngược lại – là cần phải từ bỏ chế độ cũ mà họ gọi đó là phong kiến, chuyên chế làm tổn hại đến tinh thần quốc gia.
“Ông vua trác táng”
Giọng điệu đầu tiên của chiến dịch, Diệm và những người theo Diệm đă mô tả Bảo Đại như là một ông vua hư đốn về cả mặt đạo đức lẫn chính trị. Mặc dù trên thực tế Bảo Đại là một chính trị gia khôn khéo với tinh thần quốc gia kiên quyết, nhưng chính quyền Miền Nam (lúc bấy giờ) đă minh họa ông như là một kẻ tội lỗi và nhu nhược. Theo chiến dịch tuyên truyền, ông được mô tả như một kẻ hiếu sắc, rượu chè, tham lam và đần độn. Các nhà quan sát ghi nhận rằng những điều gán ghép này đă trực tiếp đưa tới (việc kết tội ông) thỏa hiệp với âm mưu tái lập chế độ thực dân, thông đồng với cộng sản và bao che cho những sứ quân “thoái hóa” và “phong kiến”. Nhân viên của Diệm và truyền thông Sài G̣n không tiếc lời phẫn nộ với Hoàng Đế trong việc loan truyền những thất bại và như thế chẳng c̣n chỗ để ai nghi ngờ việc ông ta đă bị tước đoạt mất thiên mệnh.
Trong tuần lễ trước ngày trưng cầu dân ư, đường phố Sài G̣n và các tỉnh rực rỡ với những bích chương, biểu ngữ, h́nh nộm Bảo Đại và rất nhiều kiểu sáng tạo để tố cáo Bảo Đại và khuyến khích người dân bỏ phiếu cho Diệm (xem h́nh 1 và 2). Một trong những khẩu hiệu tiêu biểu là “Bù nh́n Bảo Đại bán nước”, “Bảo Đại nuôi dưỡng ṣng bài, đĩ điếm”, “Hăy cảnh giác Bảo Đại gian ác, mê cờ bạc, gái, rượu chè, bơ sữa. Những ai bỏ phiếu cho Bảo Đại là phản bội quốc gia và bóc lột nhân dân.” Trong khi đó th́ “Dồn phiếu cho chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm là xây dựng một xă hội công bằng và hạnh phúc,” và “Chào mừng Ngô Chí Sĩ vị cứu tinh của dân tộc. Diệt cộng, truất phế Bảo Đại (bài phong) đả thực (dân) là nhiệm vụ công dân của một nước tự do.” (54)
Báo chí cung cấp cho người ủng hộ Diệm những cơ hội để tha hồ lên án Hoàng Đế một cách tận t́nh hơn những ǵ họ đă làm như đă nói ở trên. Vào Tháng Tám 1955, chủ bút nhật báo Thời Đại là Hồng Vân đă tấn công một cách cay độc vào tư cách đạo đức của Bảo Đại trên một loạt bài kéo dài ba tuần lễ về những chuyện t́nh giật gân của vị vua này. Hồng Vân khởi đầu bằng cách lên án những thủ đoạn láu cá của Bảo Đại tự đề cao ḿnh như là vị anh hùng dân tộc nhưng thực tế chỉ là “loài bọ hung nhơ bẩn măi quốc cầu vinh.” (55) Cũng theo Hồng Vân th́ Bảo Đại – tên húy là Vĩnh Thụy, không phải là con chính thức của Vua Khải Định. (56) Sở dĩ Bảo Đại được lọt vào hoàng gia chỉ hoàn toàn do may mắn. Nhiều người biết Vua Khải Định bất lực không thể có con, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nối dơi tông đường trong khi có hai người khác cũng đang tranh chấp việc nối ngôi tại triều đ́nh Huế. Rồi Hồng Vân mơ hồ (vaguely) viết rằng có thể hoàng gia đă ra một chỉ dụ tuyên bố rằng không một người nào không có khả năng sinh con đẻ cái lại có thể được chấp nhận là hoàng đế. Do đó bằng mọi giá Khải Định phải lấy một cung nữ có tên là Cúc (sau này là Huệ Phi) và sau đó th́ Bảo Đại ra đời vào ngày 22 Tháng 10, 1913. Cho dù Hồng Vân nói có một số chứng cớ cho rằng Bảo Đại không phải là con của Khải Định kể cả việc Khải Định đă hối lộ người cha thực của Bảo Đại để ông này im tiếng, nhưng điều đó không đủ để phủ nhận được việc Bảo Đại chính thức lên ngôi mà không có ai phản đối.
Hồng Vân mô tả Khải Định và hoàng huynh Đồng Khánh là nhu nhược, gầy ốm, không có khả năng sinh con và không thích gần đàn bà. C̣n ngược lại, Bảo Đại to lớn vụng về, có rất nhiều con và hiếu sắc. (57) Một mặt, tác giả cố t́nh so sánh sự khác biệt nổi bật giữa Khải Định và Bảo Đại để chứng minh rằng họ không cùng một ḍng giống. Mặt khác lại muốn ẩn dụ rằng hành vi dâm đăng của Bảo Đại vốn không phát xuất từ hoàng tộc cho nên đáng lẽ phải nhu nhược như cha của ông ta – chứ không phải là tay ăn chơi (playboy) như thế.
Phù hợp với tinh thần bài Pháp nở rộ ở Nam Việt Nam dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, Hồng Vân cho rằng việc Pháp nuôi dưỡng Bảo Đại từ lúc tấm bé là nguyên do khiến Bảo Đại thiếu đạo đức trong lănh vực t́nh ái. Bảo Đại chính yếu được nuôi dưỡng ở Paris bởi vợ chồng một cựu toàn quyền và Bảo Đại vẫn tiếp tục ở đó cho dù đă lên ngôi vào ngày 8 Tháng 1, 1926 lúc mới 13 tuổi. Vào lúc sắp sửa bước vào tuổi đôi mươi, thái hậu bắt đầu nghe được lời bàn tán rằng Bảo Đại đă học được thói yêu đương kiểu Pháp làm cho bà kinh sợ. Cũng theo những bài báo của Hồng Vân, thái hậu lo sợ rồi đây ai là người thừa tự, cúng tế các bậc tiên vương nếu con bà lấy vợ Pháp rồi đẻ ra một lô con mang hai ḍng máu. Người ta đồn đại rằng thái hậu đă viết thư cho cha mẹ nuôi của Bảo Đại nói rơ ư muốn của bà là Bảo Đại phải lấy một người vợ Việt Nam và phải coi chừng hành vi của con bà trong thời gian ở Pháp. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của thái hậu, Bảo Đại đă yêu một cô gái mang quốc tịch Pháp có tên Marie Jeanne Henriette Nguyễn Hữu Hào, người mà Hồng Vân mô tả “tuy là gái Việt nhưng hoàn toàn là Pháp và trung thành với Pháp.” (60) V́ cô gái này là người Thiên Chúa Giáo làm cho cả hoàng tộc lo ngại v́ họ tin chắc rằng Bảo Đại và gia đ́nh của ông ta sẽ bỏ truyền thống Phật Giáo để quay sang Thiên Chúa Giáo như thế là trốn tránh (shirking) bổn phận thờ cúng tổ tiên. (61)
Những tài liệu c̣n lưu trữ chỉ rơ chiến dịch vận động cho cuộc trưng cầu dân ư 23 tháng 10 hoàn toàn một chiều và ai cũng đoán trước được kết quả như thế nào. Tuy nhiên qua đó nó cho thấy nỗ lực của Diệm cố h́nh thành một tinh thần quốc gia cho Miền Nam để đối đầu với ư thức hệ cộng sản. Chiến dịch vận động ồn ào đầy khẩu hiệu của Thủ tướng mùa thu năm 1955 đă hé mở cho thấy không khí chính trị của miền Nam khi Diệm lèo lái một đất nước từ quá khứ cổ truyền và nền hành chính thuộc địa qua nền độc lập giữa mưu cầu trước mắt là canh tân và thống nhất đất nước. Những học giả phương tây từ thập niên 1950 đă nhận ra thuyết thiên mệnh (mandate of heaven) là động lực thúc đẩy đằng sau quan niện chính trị cổ truyền. Diệm và cả những đối thủ đều ôm lấy quan niệm này cho dù đang nỗ lực cải cách chính trị bằng cách đặt nền tảng dân chủ với sự tham gia của toàn dân. Những tư tưởng (dân chủ) này hoàn toàn vay mượn từ Âu châu và Hoa Kỳ bởi những nhà cải cách suốt thế kỷ 20 do tiến tŕnh tự ư thức của nền văn minh đă được sử gia Mark Bradley (37) mô tả rất kỹ lưỡng.
Mới đây những sự nghiên cứu sâu xa về lịch sử từ những tài liệu Việt ngữ cho thấy Diệm đă trộn lẫn giữa chính trị cổ truyền với những quan niệm chính trị tân tiến để h́nh thành một chế độ chính trị đặc biệt cho miền Nam. Phillip Catton trong bài chuyên khảo về quốc sách Ấp Chiến Lược của Miền Nam cho rằng “tư tưởng của Diệm bắt nguồn từ quan niệm và tập quán cũ, nhưng ông ta bắt đầu xây dựng từ năm 1954 một kiểm mẫu quốc gia mới (mô phỏng theo Tây phương) hơn là kiểu mẫu thời tiền thuộc địa.” (38) Cũng nhận xét như thế, Edward Miller cho rằng Diệm “vừa không phải là một anh hùng thần thánh của đất nước mà cũng không phải là một nhà chuyên quyền biết uyển chuyển cuối cùng chết v́ khư khư lấy quan niệm cai trị lỗi thời.” (39)
Cả Catton và Miller đều biểu tỏ rằng trong những năm bao quanh cuộc trưng cầu dân ư Tháng 10, Diệm và Nhu đă cố gắng làm sáng tỏ ư nghĩa của một chủ thuyết thật khó hiểu, đó là thuyết Nhân Vị (personalism) vay mượn từ một người Pháp là Emmanuel Mournier rồi làm cho nó thích nghi với t́nh h́nh Việt Nam. Miller chỉ rơ rằng vào năm 1957 chế độ của Diệm đă đặt Chủ Thuyết Nhân Vị như là một ư thức hệ cho toàn dân hy vọng qua đó làm một cuộc cách mạng cho xă hội Miền Nam. Theo quan điểm của Catton th́ Diệm và Nhu đă xử dụng chủ thuyết Nhân Vị để “phát huy một tổng hợp văn hóa cho Việt Nam” bằng cách khuyến khích “hướng về triết lư Á châu và tôn giáo” để mưu t́m một chính quyền “trung dung hầu bảo đảm phúc lợi chung cũng như quyền hạn của từng cá nhân.” (40) Cao Văn Luận, một trong những thành viên nội các cũ của Diệm nhớ lại rằng chủ thuyết đó đă thất bại. Ông cho rằng nhăn hiệu Nhân Vị của anh em họ Ngô thiếu nền tảng tư tưởng chính trị cổ truyền Việt Nam, và cũng chính v́ thế đă làm suy yếu điều mà Diệm tuyên bố ḿnh là một lănh tụ v́ dân. (41) Thế nhưng trong khi đang nỗ lực đặt nền móng cho một chính quyền v́ dân và tân tiến qua cuộc truất phế Bảo Đại, Diệm lại gắn chặt với những ư niệm của thời xa xưa bằng cách đề cao ư niệm về quyền lực theo truyền thống đông phương.
Mệnh Trời, một triết lư của Khổng Tử thừa hưởng được từ tư tưởng triết học Trung Hoa, có muôn vàn tác dụng khi đưa nó vào chính trị. Thuyết này nguyên thủy chủ trương người cai trị phải phục vụ người dân phù hợp với luân lư và đạo đức, thế nhưng những kẻ đi xâm lăng, những kẻ làm cách mạng cũng nhân danh Mệnh Trời để biện minh cho hành vi lật đổ của ḿnh. Stephen B. Young cho rằng “mệnh trời là trung tâm điểm của đời sống Việt Nam”, (42) người Việt tin rằng sự phi đạo đức trong đời sống công cũng như tư của người lănh đạo làm mất Mệnh Trời. (43) Stephen B. Young cho rằng “một khi người cai trị xa rời đạo đức” th́ cả xă hội phải chịu phải chịu sự trừng phạt của Trời qua những hiện tượng như mất mùa, chiến tranh, tham ô nhũng lạm cùng những thiên tai khác.
Tuy nhiên nhà xă hội học Pháp Paul Mus, chỉ rơ người dân Việt không thay đổi ḷng trung thành của họ một cách khinh xuất. Trái lại, họ thường chờ một dấu hiệu để biết chắc ư Trời hoặc đă trao phó hoặc rút lại thiên mệnh trước khi hỗ trợ một nhà cai trị nào hoặc một cuộc nổi dậy chống lại một vị hoàng đế nào. (44) Do thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh và hiểu biết chu kỳ tuần hoàn của lịch sử, người dân Việt Nam thường kiên nhẫn chờ xem có phải một chế độ cách mạng thật sự được trao phó thiên mệnh không? Theo quan điểm của Mus th́ thiên mệnh chỉ hiện rơ khi “có sự xuất hiện của một hệ thống chính trị mới thay thế những học thuyết cũ, những định chế và người cai trị chứng tỏ ổn định được xă hội.” (45)
Chỉ đến khi đó, nếu không, người Việt tránh ngả theo bên nào trong các cuộc tranh chấp quyền hành (nội bộ), v́ sợ lầm người và từ đó làm phật ư Trời.
Một học giả nghiên cứu về Khổng Tử cho rằng “Niềm tin về cuộc đời và số phận là do Trời đặt để khiến người ta tin vào thuyết định mệnh.” (46) Đ̣i hỏi phải có dấu hiệu rơ rệt của thiên mệnh không phải chỉ để khuyến khích người ta giữ thái độ trung lập, nhưng theo một số người, mà c̣n ngăn ngừa khả năng thỏa hiệp giữa những đối thủ chính trị nhằm thiết lập quyền hành và tái lập trật tự xă hội. Thật vậy, theo Peter J. Moody, “Không quốc gia nào theo văn hóa Khổng Mạnh lại dung thứ cho việc tranh chấp quyền bính.” (47) Cho đến khi Mệnh Trời được trao phó rơ ràng, các quốc gia thấm nhuần triết lư Khổng Mạnh thường lên án việc xáo trộn xă hội và bạo loạn. (48)
Mặc dù (thiên mệnh) có ảnh hưởng bao trùm ở Việt Nam, và lời giải thích về kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử, thiên mệnh (mà người ta nêu ra) vẫn c̣n quá nhỏ bé để giải thích thái độ chính trị của dân Việt (lúc bấy giờ). Gerald Hickey, một thành viên của Nhóm Cố Vấn Viện Đại Học Michigan ghi nhận rằng người Việt thường ứng xử thực tế thận trọng hơn. Dưới nhăn quan của ông, theo kinh nghiệm lịch sử, họ sợ chính quyền trả thù hơn là thần thánh phạt, họ trả lời câu hỏi để làm đẹp ḷng chính quyền hơn là nói thực ḷng họ. (49) Hoàn toàn không tương hợp với triết lư Khổng Mạnh Việt trong quá khứ, Keith Taylor cho rằng quan niệm Khổng Tử của người Việt Nam “là tạo ra một h́nh thức áp lực để ngăn ngừa sự bất tuân phục.” (50) Dù thế, theo sử gia R. B. Smith, “Miền Nam không bao giờ thuấn nhuần triết lư Khổng Mạnh hơn Miền Trung và Miền Bắc.” (51) Những rắc rối về mặt khái niệm và lư luận đă làm phức tạp thêm ư niệm Thiên Mệnh như là một sức mạnh chính trị. Nó thừa nhận rằng ngay tầng lớp thứ dân chứ không hẳn những nhà cai trị cũng phải hành xử theo quy tắc đạo đức thay v́ quyền lợi cá nhân. Xa hơn nữa, nó thừa nhận rằng tất cả người Việt Nam đều diễn giải những biểu hiện về đạo đức giống như nhau. Hơn thế nữa khi ứng dụng vào những biến động của thời kỳ hậu 1945 nó đ̣i hỏi một sự đồng nhất và hiểu biết như nhau về các biến động chính trị quốc gia của tất cả mọi công dân trong nước. Tuy vậy, các học giả xác quyết rằng quan niệm cổ xưa về thiên mệnh đă thúc đẩy hầu hết tầng lớp người Việt ở đô thị theo Tây học suốt thập niên 1970 và sau đó. (52) Các học giả này đúng ở một chừng mực nào đó. Di sản về triết lư Khổng Tử của Việt Nam trên thực tế đă là một thành tố trong quan niệm chính trị của người dân cho dù họ không sao giải thích cặn kẽ được.
Phương pháp tốt nhất để t́m hiểu một chuỗi những thành tố phức tạp đă thúc đẩy khối cử tri Việt Nam vào thời điểm (này) khi xă hội và chính trị thay đổi mau chóng – là khảo sát các tài liệu đă được ấn hành mà chúng tôi có được. Bằng cách nào mà các nhà chính trị, ở đây là Diệm, đă tận dụng quan niệm thiên mệnh để thuyết phục người dân phế bỏ Hoàng Đế và lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng cho cá nhân và mô thức chính quyền dân chủ mới của ông? Có hai giọng điệu thuyết phục, một là phương thức cổ truyền và cách kia – chắc chắn cảm hứng từ Tây Phương tràn ngập trong chiến dịch chống Bảo Đại năm 1955. Trước hết, chính quyền Nam Việt Nam và báo chí Sài G̣n đưa ra chiến dịch dài để làm mất tư cách của Bảo Đại và từ đó mặc nhiên ám chí rằng Trời đă lấy đi thiên mệnh đă ban cho Bảo Đại và hoàng tộc và trao cho Diệm – một lănh tụ đạo đức sáng ngời. (53) Thứ hai, những bài báo và lời tuyên bố của chính phủ tán dương những giá trị của chính quyền dân chủ và quyền tự quyết của người dân. Nói đảo ngược lại – là cần phải từ bỏ chế độ cũ mà họ gọi đó là phong kiến, chuyên chế làm tổn hại đến tinh thần quốc gia.
“Ông vua trác táng”
Giọng điệu đầu tiên của chiến dịch, Diệm và những người theo Diệm đă mô tả Bảo Đại như là một ông vua hư đốn về cả mặt đạo đức lẫn chính trị. Mặc dù trên thực tế Bảo Đại là một chính trị gia khôn khéo với tinh thần quốc gia kiên quyết, nhưng chính quyền Miền Nam (lúc bấy giờ) đă minh họa ông như là một kẻ tội lỗi và nhu nhược. Theo chiến dịch tuyên truyền, ông được mô tả như một kẻ hiếu sắc, rượu chè, tham lam và đần độn. Các nhà quan sát ghi nhận rằng những điều gán ghép này đă trực tiếp đưa tới (việc kết tội ông) thỏa hiệp với âm mưu tái lập chế độ thực dân, thông đồng với cộng sản và bao che cho những sứ quân “thoái hóa” và “phong kiến”. Nhân viên của Diệm và truyền thông Sài G̣n không tiếc lời phẫn nộ với Hoàng Đế trong việc loan truyền những thất bại và như thế chẳng c̣n chỗ để ai nghi ngờ việc ông ta đă bị tước đoạt mất thiên mệnh.
Trong tuần lễ trước ngày trưng cầu dân ư, đường phố Sài G̣n và các tỉnh rực rỡ với những bích chương, biểu ngữ, h́nh nộm Bảo Đại và rất nhiều kiểu sáng tạo để tố cáo Bảo Đại và khuyến khích người dân bỏ phiếu cho Diệm (xem h́nh 1 và 2). Một trong những khẩu hiệu tiêu biểu là “Bù nh́n Bảo Đại bán nước”, “Bảo Đại nuôi dưỡng ṣng bài, đĩ điếm”, “Hăy cảnh giác Bảo Đại gian ác, mê cờ bạc, gái, rượu chè, bơ sữa. Những ai bỏ phiếu cho Bảo Đại là phản bội quốc gia và bóc lột nhân dân.” Trong khi đó th́ “Dồn phiếu cho chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm là xây dựng một xă hội công bằng và hạnh phúc,” và “Chào mừng Ngô Chí Sĩ vị cứu tinh của dân tộc. Diệt cộng, truất phế Bảo Đại (bài phong) đả thực (dân) là nhiệm vụ công dân của một nước tự do.” (54)
Báo chí cung cấp cho người ủng hộ Diệm những cơ hội để tha hồ lên án Hoàng Đế một cách tận t́nh hơn những ǵ họ đă làm như đă nói ở trên. Vào Tháng Tám 1955, chủ bút nhật báo Thời Đại là Hồng Vân đă tấn công một cách cay độc vào tư cách đạo đức của Bảo Đại trên một loạt bài kéo dài ba tuần lễ về những chuyện t́nh giật gân của vị vua này. Hồng Vân khởi đầu bằng cách lên án những thủ đoạn láu cá của Bảo Đại tự đề cao ḿnh như là vị anh hùng dân tộc nhưng thực tế chỉ là “loài bọ hung nhơ bẩn măi quốc cầu vinh.” (55) Cũng theo Hồng Vân th́ Bảo Đại – tên húy là Vĩnh Thụy, không phải là con chính thức của Vua Khải Định. (56) Sở dĩ Bảo Đại được lọt vào hoàng gia chỉ hoàn toàn do may mắn. Nhiều người biết Vua Khải Định bất lực không thể có con, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nối dơi tông đường trong khi có hai người khác cũng đang tranh chấp việc nối ngôi tại triều đ́nh Huế. Rồi Hồng Vân mơ hồ (vaguely) viết rằng có thể hoàng gia đă ra một chỉ dụ tuyên bố rằng không một người nào không có khả năng sinh con đẻ cái lại có thể được chấp nhận là hoàng đế. Do đó bằng mọi giá Khải Định phải lấy một cung nữ có tên là Cúc (sau này là Huệ Phi) và sau đó th́ Bảo Đại ra đời vào ngày 22 Tháng 10, 1913. Cho dù Hồng Vân nói có một số chứng cớ cho rằng Bảo Đại không phải là con của Khải Định kể cả việc Khải Định đă hối lộ người cha thực của Bảo Đại để ông này im tiếng, nhưng điều đó không đủ để phủ nhận được việc Bảo Đại chính thức lên ngôi mà không có ai phản đối.
Hồng Vân mô tả Khải Định và hoàng huynh Đồng Khánh là nhu nhược, gầy ốm, không có khả năng sinh con và không thích gần đàn bà. C̣n ngược lại, Bảo Đại to lớn vụng về, có rất nhiều con và hiếu sắc. (57) Một mặt, tác giả cố t́nh so sánh sự khác biệt nổi bật giữa Khải Định và Bảo Đại để chứng minh rằng họ không cùng một ḍng giống. Mặt khác lại muốn ẩn dụ rằng hành vi dâm đăng của Bảo Đại vốn không phát xuất từ hoàng tộc cho nên đáng lẽ phải nhu nhược như cha của ông ta – chứ không phải là tay ăn chơi (playboy) như thế.
Phù hợp với tinh thần bài Pháp nở rộ ở Nam Việt Nam dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, Hồng Vân cho rằng việc Pháp nuôi dưỡng Bảo Đại từ lúc tấm bé là nguyên do khiến Bảo Đại thiếu đạo đức trong lănh vực t́nh ái. Bảo Đại chính yếu được nuôi dưỡng ở Paris bởi vợ chồng một cựu toàn quyền và Bảo Đại vẫn tiếp tục ở đó cho dù đă lên ngôi vào ngày 8 Tháng 1, 1926 lúc mới 13 tuổi. Vào lúc sắp sửa bước vào tuổi đôi mươi, thái hậu bắt đầu nghe được lời bàn tán rằng Bảo Đại đă học được thói yêu đương kiểu Pháp làm cho bà kinh sợ. Cũng theo những bài báo của Hồng Vân, thái hậu lo sợ rồi đây ai là người thừa tự, cúng tế các bậc tiên vương nếu con bà lấy vợ Pháp rồi đẻ ra một lô con mang hai ḍng máu. Người ta đồn đại rằng thái hậu đă viết thư cho cha mẹ nuôi của Bảo Đại nói rơ ư muốn của bà là Bảo Đại phải lấy một người vợ Việt Nam và phải coi chừng hành vi của con bà trong thời gian ở Pháp. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của thái hậu, Bảo Đại đă yêu một cô gái mang quốc tịch Pháp có tên Marie Jeanne Henriette Nguyễn Hữu Hào, người mà Hồng Vân mô tả “tuy là gái Việt nhưng hoàn toàn là Pháp và trung thành với Pháp.” (60) V́ cô gái này là người Thiên Chúa Giáo làm cho cả hoàng tộc lo ngại v́ họ tin chắc rằng Bảo Đại và gia đ́nh của ông ta sẽ bỏ truyền thống Phật Giáo để quay sang Thiên Chúa Giáo như thế là trốn tránh (shirking) bổn phận thờ cúng tổ tiên. (61)