Romano
01-09-2015, 14:28
Đánh giá những kết quả
Trong một bản duyệt xét năm 1966 (ba năm sau khi Ô. Diệm bị lật đổ) của Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA) về những cuộc bầu cử tại Nam Việt Nam đă kết luận rằng cuộc trưng cầu dân ư Tháng 10, 1955 là cuộc bầu cử mà kết quả đă được định trước một cách nặng nề nhất trong sáu cuộc bầu cử tổ chức tại Miền Nam sau Hiệp Định Genève. Bản duyệt xét nói rằng “Thủ tục bầu cử lẫn bầu không khí diễn ra trước ngày bầu cử đă được tính toán sao cho đạt kết quả định trước.” (102) Bản duyệt xét nói thêm Diệm đă dùng Bộ Thông Tin như là cơ quan tuyên truyền dân chúng và vận động cho ứng cử viên của chính phủ, trong khi đó “ít giải thích cho người dân biết ư nghĩa của cuộc bầu cử và giá trị của lá phiếu.” Có thể đây nhận xét không công bằng v́ Diệm thực sự có một số những nỗ lực đánh bóng tiến tŕnh dân chủ. Tuy nhiên, những chiến dịch đánh bóng nền dân chủ này luôn luôn nghiêng về phía Thủ Tướng. Ngoài những thủ thuật nói trên, Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA) c̣n ghi nhận rằng áp lực quân sự, mua chuộc và nhất là thiếu tính bỏ phiếu kín đă khiến Diệm thắng cử vẻ vang. Tuy vậy, chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận rằng chính chiến dịch vận động truất phế Bảo Đại hơn là những gian lận về bầu cử đă đưa tới kết quả như đă nói ở trên. Các phân tích gia của Trung Ương T́nh Báo Mỹ nhận định “Với Bảo Đại c̣n ở Paris không có dịp biện minh cho ḿnh, trong khi đó th́ báo chí và đài phát thanh hoàn toàn do chính quyền kiểm soát đă đưa tới độc quyền vận động tranh cử.” (103)
Cho dù chiến dịch vận động thiên vị có làm cho các giới chức Hoa Kỳ lo ngại trước cuộc trưng cầu dân ư nhưng Hoa Thịnh Đốn cũng chào mừng (welcomed) chiến thắng của Diệm. Sau khi Thủ Tướng loan báo thắng cử vào ngày 26 Tháng 10, những lo ngại trước đây của Đại Sứ Reinhardt cũng nhạt dần và tuyên bố rằng “cuộc trưng cầu dân ư chứng tỏ sự thành công lớn lao của chính quyền Diệm.” Ông nói rằng kết quả của cuộc bầu cử tuy không chứng tỏ Diệm chiếm được đa số ủng hộ tại Miền Nam nhưng nó khiến chính quyền hầu như có thể tiến hành một cuộc phổ thông đầu phiếu hiển nhiên không thể tranh căi (unchallenged). (104) Bên cạnh một vài cuộc tấn công rải rác vào địa điểm bỏ phiếu của lính Ḥa Hảo, những công khai chống đối Diệm kiểm soát hoàn toàn cuộc bầu cử chỉ là con số không. (105) Không bày tỏ tinh thần dân chủ thực sự, các giới chức Hoa Kỳ nhiệt liệt chúc mừng khả năng của Diệm dẹp tan sự chống đối của các giáo phái, công sản và những người thân Bảo Đại.
Hơn thế nữa, cho dù có những lo ngại của Đại Sứ Reinhardt trước cuộc bầu cử, báo chí Hoa Kỳ nhiệt liệt ca ngợi cuộc bỏ phiếu ở Miền Nam như là chiến thắng vĩ đại của nền dân chủ và là cú đấm vào chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Những người bàng quan ở Midwest (Vùng Trung Tây Hoa Kỳ) đă giải thích kết quả cuộc trưng cầu dân ư “là cuộc bỏ phiếu áp đảo bày tỏ niềm tin (vào Diệm) và là sự hết ḷng ủng hộ các nguyên tắc dân chủ mà Diệm là người tiêu biểu.” (106) Một tờ báo ở Ohio viết như sau “Một dân tộc hầu như không biết dân chủ là ǵ đă đi tới pḥng phiếu vào ngày Chủ Nhật và để lại một lời tuyên phán với bản năng suy luận đúng đắn.” (107) Tuy nhiên, các nhà b́nh luận tại các trung tâm đô thị lớn của Hoa Kỳ th́ lại hoài nghi nhiều hơn. Henri Lieberman của tờ New York Times viết như sau “Con số đông đảo người đi bỏ phiếu khắp Miền Nam làm cho sự kiểm soát của chính quyền Diệm có vẻ như tỏa rộng khắp nơi khác hẳn với ư nghĩ trong đầu của các nhà quan sát ở đó.” (108)
Cả phe lạc quan lẫn phe bi quan đều ghi nhận rằng chiến thắng của Diệm trong cuộc trưng cầu dân ư chắc chắn sẽ loại bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước dự trù tổ chức vào mùa Xuân năm tới. Tờ New York Times số ra ngày 24 Tháng Mười chỉ rơ “Chiến thắng áp đảo của Diệm thực chất loại trừ khả năng tiến hành cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước Tháng Bảy năm tới theo quị định của Hiệp Định Genève.” (109) C̣n Diệm đă làm sáng tỏ sự nghi ngờ này vào ngày 25 Tháng Mười khi tuyên bố rằng ông chỉ tiến hành những cuộc thương nghị để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử khi nào “thực sự tự do” được thiết lập tại Miền Bắc. (110) Nh́n chung, kết quả này làm Hoa Kỳ nhẹ nhơm với những lo sợ v́ sự xụp đổ hàng loạt như quân bài Domino khắp Vùng Đông Nam Á.
Đối với rất nhiều nhà báo Hoa Kỳ th́ cuộc trưng cầu dân ư được coi là đáng kể nhất trong chức năng củng cố nền chính trị của Miền Nam đang tách rời khỏi Pháp và nhích về phía Hoa Kỳ. (111) Người Hoa Kỳ coi cuộc trưng cầu dân ư Tháng Mười là cái tát vào mặt và cũng là sự tủi nhục của nước Pháp. V́ người Pháp đă đánh bài (liều lĩnh) trong việc chống đối Diệm và đưa Bảo Đại lên như vị lănh đạo tối cao của Miền Nam, việc truất phế Bảo Đại báo hiệu những nỗ lực c̣n rơi rớt lại để nắm quyền của Pháp hoàn toàn chấm dứt. (112) Dù rất nhiều người Hoa Kỳ tiên đoán đây là bước tích cực, một bước khiến Diệm có đủ thẩm quyền để điều hành một chính quyền hữu hiệu một lần cho dứt khoát, c̣n một số lại lo ngại về những rắc rối chính trị trong tương lai. (113) Việc trục xuất người Pháp đẩy Hoa Kỳ vào thế cô lập và là cường quốc Tây Phương duy nhất can dự vào Việt Nam, một sự kiện ám ảnh Hoa Thịnh Đốn những năm sau đó.
Các nhà ngoại giao và kư giả Pháp đương nhiên giải thích cuộc trưng cầu dân ư c̣n xa hơn là cái tát vào mặt. Dù Pháp mau chóng thừa nhận Việt Nam Cộng ḥa của Diệm, truyền thông Pháp để lộ sự bồn chồn của cả nước đối với chiến thắng của Diệm. Trước ngày bầu cử, các giới chức Pháp ở Sài G̣n lo sợ bộ tham mưu của Diệm sẽ dùng cuộc trưng cầu dân ư như là một bằng chứng để không c̣n bị ràng buộc bởi những thỏa hiệp quốc tế, từ đó có thể sẽ giải tán ngay Bộ Chỉ Huy Cao Cấp Pháp (French High Command). Người Pháp sợ rằng hành động này khiến Pháp không c̣n khả năng thi hành những điều khoàn của Hiệp Định Genève dưới vĩ tuyến 17. Một vài nhà báo Pháp cho rằng kế hoạch truất phế Bảo Đại nằm trong kế hoạch của Hoa Kỳ phá ngầm Hiệp Định Genève bằng cách đỡ đầu cho một cuộc bầu cử riêng lẻ tại Miền Nam. (115) Họ mô tả cuộc trưng cầu dân ư là bước đầu trong hai bước trong chiến thuật của Diệm nhằm phá hoại việc tái lập ḥa b́nh, thống nhất đất nước, loại trừ mọi chống đối nói chung và loại trừ ảnh hưởng của Pháp nói riêng. Việc bầu cử Quốc Hội cho Miền Nam sẽ là bước hoàn tất âm mưu của Diệm. Rất nhiều nhà quan sát Pháp lo ngại rằng một hành động như thế làm tổn hại nghiêm trọng tới mối bang giao Pháp-Mỹ và ngăn chặn mọi khả năng tái lập thương nghị giữa hai miền Nam Bắc. (116)
Tờ Le Monde thận trọng trước hy vọng về tương lai dân chủ với chính quyền của Diệm, một vài tờ báo khác nhấn mạnh rằng thủ tục tiến hành bầu cử hoàn toàn thiếu dân chủ và đặt dấu hỏi về kết quả của nó. Một vài tờ báo khác cho rằng sự thiếu vắng tiếng nói đối lập ở Sài G̣n là bằng chứng đàn áp hơn là sự nhất trí (của người dân). (117) Theo hăng thông tấn Paris, gần 50% cử tri né tránh không bỏ phiếu điều này giải thích chiến thắng áp đảo của Diệm. Diệm thu đạt được tất cả số phiếu chỉ v́ không có người nào nói xấu Diệm lại muốn đến pḥng phiếu để gánh lấy phiền phức. (118)
Mầm mống chống đối
Quan trọng hơn những phản ứng của Pháp và Hoa Kỳ về chiến dịch của Diệm là thái độ của các nhà lănh đạo đối lập Việt Nam. (119) V́ Diệm tiến hành cuộc trưng cầu dân ư và coi đó như là phong trào dân chủ vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, các đối thủ đă công kích ông ta trên luận điểm cho rằng những cam kết về dân chủ chỉ là những lời tuyên truyền. Thật vậy, cuộc bầu cử được vẽ ra, đủ thứ cả nhưng không phải là dân chủ. Một thành viên trong nội các cũ của Diệm là Cao Văn Luận nhớ lại một buổi nói chuyện trong đó Diệm than phiền là có quá nhiều mầm mống chống đối đe dọa gây hỗn loạn ở Miền Nam. Ông ta khẳng định rằng đất nước chỉ có một Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và một đảng là duy nhất là Đảng Cần Lao Nhân Vị (Personalist Labor Party) do Ngô Đ́nh Nhu điều khiển. V́ thế chính quyền phải thanh toán các đảng phái đối lập bằng vũ lực và loại trừ bất cứ khả năng đối lập chính trị công khai nào. Theo thống kê của một sử gia Miền Bắc về Mỹ-Diệm hoặc chế độ của Ô. Diệm được người Mỹ đỡ đầu, đă giết hoặc bỏ tù khoàng 93,362 binh sĩ đối lập, đảng viên và những người yêu nước giữa Tháng Bảy 1955 và Tháng Hai 1956 trong chiến dịch bạo động để thanh toán đối lập. (121) Có thể con số này đă được khuếch đại, nhưng chắc chắn nó biểu tỏ bầu không khí sợ hăi của người dân có thể đă làm ngăn trở tiến tŕnh dân chủ.
Thật vậy, có rất ít sự chống đối công khai trước cuộc trưng cầu dân ư, đặc biệt là một vài lănh tụ Cao Đài, Ḥa Hảo có thế lực vẫn c̣n nằm trong Hội Đồng Cách Mạng để giành giựt quyền hành trong chính phủ. (122) Nhưng những vị lănh đạo các giáo phái bất măn ở ngoài Hội Đồng đă thực sự bày tỏ sự chống đối, song hạn chế bởi thiếu sự thông tin. Vào ngày 22 Tháng Mười tướng Ḥa Hảo Trần Văn Soái loan báo mong có một chế độ thực sự dân chủ và tuyên bố cuộc trưng cầu dân ư là bất hợp pháp và kết quả của nó phải bị hủy bỏ. Ông ta kêu gọi “các quốc gia bạn và toàn dân Việt Nam hăy bất tín nhiệm thủ đoạn chính trị này.” (123) C̣n lực lượng Ḥa Hảo của Ba Cụt vẫn giao tranh với Quân Đội Quốc Gia tại miền tây của Nam Việt Nam, cũng đưa ra lời chỉ trích mưu đồ của Diệm. Trong một truyền đơn đề ngày 3 Tháng Mười 1955, Ba Cụt tố cáo cuộc trưng cầu dân ư là thời điểm “để qui tụ dân chúng khắp nơi để ép họ phải bày tỏ mục đích mà Diệm mong muốn : Đó là truất phế Vua Bảo Đại và tuyên bố bù nh́n Ngô Đỉnh Diệm làm tổng thống.” (124) Ba Cụt cho rằng đây là một bằng chứng về một âm mưu của Hoa Kỳ nhằm “Thiên Chúa Giáo Hóa” Việt Nam, v́ Diệm không phải chỉ dùng số tiền 2 triệu đô-la của viện trợ Mỹ mà c̣n xử dụng 2 triệu đô-la của các tổ chức Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ cho cuộc trưng cầu dân ư. Theo Dân Xă Đảng (cũng thuộc Ḥa Hảo) th́ Diệm đă dùng viện trợ Mỹ cho mục tiêu không chính đáng (less than honorable use). Phát ngôn viên của Dân Xă Đảng nói rằng “Diệm đă hối lộ các tổ chức công nhân, mua chuộc thanh niên sinh viên viết thỉnh nguyện thư ủng hộ Diệm để lên chức tổng thống và truất phế Vua Bảo Đại.” (125)
Vào thời điểm mà cuộc bầu cử Quốc Hội tiến hành vào Tháng Ba 1956 những cuộc chống đối rải rác trước đây nay trở thành chín muồi. Đây một phần, chắc chắn là v́ Diệm giải tán Hội Đồng Cách Mạng vào ngày 15 Tháng Giêng 1956 và một phần v́ hàng loạt các cuộc bố ráp khiến hầu hết các đảng viên của các đảng phái phải sống lưu vong hoặc trốn vào chiến khu vùng Tây Nam Việt Nam. (126) Họ cảm thấy bị lừa và phản ứng lại bằng cách liên kết với các đảng phái quốc gia khác đă bị loại trừ để mạnh mẽ tố cáo Diệm đă dùng những phương tiện dân chủ giả hiểu để củng cố quyền hành. Tới Tháng Ba, họ cũng bắt chước cộng sản bằng cách dùng danh từ Mỹ-Diệm (America-Diệm) và thêm vào đó một số lời tố cáo như Tôn Giáo Trị (Religious Government) và Gia Đ́nh Trị (Family Government).
Kết luận
Việc tái lượng giá Cuộc Trưng Cầu Dân Ư Truất Phế Bảo Đại vào 23 Tháng 10 lần này, qua sự soi sáng của các tài liệu Việt ngữ cho thấy Diệm đă long trọng hứa hẹn dân chủ và quyền dân tộc tự quyết cho toàn dân miền Nam. Cho tới ngày hôm nay, các sử gia đều đồng loạt kết luận rằng Diệm chỉ công bố dân chủ ở cửa miệng (lip service democratic) trên chính trường quốc tế để vui ḷng người Mỹ đỡ đầu, song những lời cổ vũ ồn ào về dân chủ tŕnh bày trong tài liệu này chứng tỏ rằng tự thân Thủ Tướng cũng tin tưởng vào những giá trị của dân chủ, ít ra trên b́nh diện trừu tượng. Trong khi cổ vũ dân chủ lại loại trừ đối lập đó là một phần của cuộc “Cách Mạng Nhân Vị” (Personalist Revolution) của anh em họ Ngô mà Edward Miller đă diễn tả “đó là cái nh́n rộng lớn để thấy Việt Nam có thể đă được chuyển hóa và tân tiến hóa như thế nào.” (127)
Hơn thế nữa, việc không giữ đúng lời hứa về quyền b́nh đẳng và quyền tự do cá nhân đưa ra trong những cuộc vận động đă giúp giải thích nỗi bất b́nh của người dân Miền Nam Việt Nam phản ứng lại chế độ áp bức của Diệm những năm sau đó. Vào Tháng Mười 1955 Thủ Tướng tuyên bố cách mạng xă hội để giải phóng người dân ra khỏi chế độ phong kiến lạc hậu và loại trừ lănh đạo vô đạo đức. V́ thất bại trong việc thay thế chế độ cũ bằng một chế độ mới dân chủ hơn, chính những lời hứa long trọng về dân chủ này đă giúp cho những thành phần chống đối đưa ra những chiến dịch chống lại ông. Từ Tháng Mười 1955, các nhóm chống đối tại Miền Nam đă tố cáo Diệm không những là nhà lănh đạo bất tài (poor leadership) mà c̣n đạo đức giả (hypocrisy). Trong đoàn kỳ, Diệm thành công trong việc ngăn chặn trước cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước dự trù vào năm 1956, thiết lập được một chính quyền tự trị (autonomous state), nhưng trong tiến tŕnh này ông đă gieo rắc mầm mống chống đối cuối cùng đưa đến sự sụp đổ của chính ông và thất bại của Việt Nam Cộng ḥa.
Một mặt khác, các nguồn tài liệu của Mỹ cho thấy các giới chức Hoa Kỳ chỉ tập trung sự chú ư vào dư luận thế giới đối với cuộc trưng cầu dân ư hơn là chú tâm tới nội t́nh chính trị của Miền Nam. Các nhà hoạch định chính sách ở Hoa Thịnh Đốn và Sài G̣n chỉ lo ngại cuộc bầu cử thiếu dân chủ Tháng Mười ở chừng mực là nó có thể làm giảm uy tín của Diệm và bộ mặt của nước Mỹ trên trường quốc tế. Cả Dulles, Reinhartd và các đồng nghiệp không hề quan tâm để t́m hiểu xem người dân Miền Nam đă trải qua cuộc trưng cầu dân ư như thế nào và các thành phần đối kháng ở Miền Nam như Ḥa Hảo, B́nh Xuyên và Cao Đài. Hơn thế nữa, sự không chú ư tới nội t́nh chính trị của Miền Nam khiến cho Hoa Kỳ chỉ đứng nh́n một cách thụ động trong khi Diệm tự làm suy giảm uy quyền của ḿnh và cũng khiến Hoa Thịnh Đốn không có cách (ill equipped) để giải thích và đối phó với kết quả tệ hại cuối cùng khiến Diệm bội hứa và tiến hành chính sách đàn áp. Trong nhiều thập niên, các sử gia đă hết sức khó khăn (phải chật vật) để giải thích lư do tại sao Hoa Kỳ lại ủng hộ Diệm trong khi ông ta thi hành chính sách độc tài. Michael Latham và một số sử gia khác cho rằng Hoa Kỳ đă dựa trên phán đoán sai lầm về lư thuyết tân tiến hóa để biện minh cho việc ủng hộ chính sách chính trị đạo đức giả của Diệm. (128) Với nhận thức sai lầm đó, các giới chức Hoa Kỳ hy vọng rằng việc thiết lập một chính thể cộng ḥa tại Nam Việt Nam và tài trợ cho các chương tŕnh phát triển kinh tế dưới vĩ tuyến 17 sẽ đưa Miền Nam đi vào quỹ đạo phát triển trong khi Miền Bắc sống ray rứt dưới chế độ công sản áp bức. C̣n David Anderson cũng hỗ trợ lối giải thích này, ông viết “Eisenhower và các cố vấn của ông tin rằng thời điểm lúc bấy giờ đứng về phía họ” – rằng cộng sản miền Bắc cuối cùng sẽ bị đánh bại nếu như nó bị chặn lại một thời gian vừa đủ. (129) Một vài sử gia khác lại cho rằng thái độ độc lập của Diệm khiến Hoa Kỳ rất khó xử (có rất ít chọn lựa). Ed Miller cho rằng từ năm 1954 “Diệm vừa không muốn chịu ơn Hoa Kỳ vừa không có khuynh hướng nghe lời cố vấn của Hoa Kỳ.” (130) Tuy nhiên những tài liệu liên quan đến cuộc trưng cầu dân ư chứng tỏ rằng các giới chức Hoa Kỳ đă không nỗ lực thật sự để t́m hiểu tính phức tạp của chính trường Miền Nam. Sự hiểu biết về nội t́nh Miền Nam như vậy chính ra hết sức cần thiết để Hoa Thịnh Đốn hoạch định các chính sách một cách hữu hiệu và đưa ra lời cố vấn mà ḿnh mong muốn, thích hợp với sắc thái văn hóa và chính trị của Miền Nam. V́ thế Hoa Kỳ, ở một chừng mực nào đó đă chọn lựa thái độ làm ngơ thay v́ gây ảnh hưởng đối với Diệm.
Phần cảm tạ
Tác giả xin chân thành cảm tạ những vị và những cơ quan dưới đây đă cố vấn và hỗ trợ :
The Pacific Rim Research Program, the Institute for International Education, the Institute on Global Conflict and Cooperation, Nguyễn Văn Kim, Mai Thị Tuyết Anh, Fredrick Logevall, Toshi Hasegawa, Robert Brigham, Geerge Herring, Jessica Elkind, James Waite, Maeve Devoy, Carolyn Lewis, Sandra Dawson, Toshi Anono, John Abardelatti, David Shuster, Mark O’Tool, and the two anonymous readers for Diplomatic History.
tm
Trong một bản duyệt xét năm 1966 (ba năm sau khi Ô. Diệm bị lật đổ) của Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA) về những cuộc bầu cử tại Nam Việt Nam đă kết luận rằng cuộc trưng cầu dân ư Tháng 10, 1955 là cuộc bầu cử mà kết quả đă được định trước một cách nặng nề nhất trong sáu cuộc bầu cử tổ chức tại Miền Nam sau Hiệp Định Genève. Bản duyệt xét nói rằng “Thủ tục bầu cử lẫn bầu không khí diễn ra trước ngày bầu cử đă được tính toán sao cho đạt kết quả định trước.” (102) Bản duyệt xét nói thêm Diệm đă dùng Bộ Thông Tin như là cơ quan tuyên truyền dân chúng và vận động cho ứng cử viên của chính phủ, trong khi đó “ít giải thích cho người dân biết ư nghĩa của cuộc bầu cử và giá trị của lá phiếu.” Có thể đây nhận xét không công bằng v́ Diệm thực sự có một số những nỗ lực đánh bóng tiến tŕnh dân chủ. Tuy nhiên, những chiến dịch đánh bóng nền dân chủ này luôn luôn nghiêng về phía Thủ Tướng. Ngoài những thủ thuật nói trên, Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA) c̣n ghi nhận rằng áp lực quân sự, mua chuộc và nhất là thiếu tính bỏ phiếu kín đă khiến Diệm thắng cử vẻ vang. Tuy vậy, chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận rằng chính chiến dịch vận động truất phế Bảo Đại hơn là những gian lận về bầu cử đă đưa tới kết quả như đă nói ở trên. Các phân tích gia của Trung Ương T́nh Báo Mỹ nhận định “Với Bảo Đại c̣n ở Paris không có dịp biện minh cho ḿnh, trong khi đó th́ báo chí và đài phát thanh hoàn toàn do chính quyền kiểm soát đă đưa tới độc quyền vận động tranh cử.” (103)
Cho dù chiến dịch vận động thiên vị có làm cho các giới chức Hoa Kỳ lo ngại trước cuộc trưng cầu dân ư nhưng Hoa Thịnh Đốn cũng chào mừng (welcomed) chiến thắng của Diệm. Sau khi Thủ Tướng loan báo thắng cử vào ngày 26 Tháng 10, những lo ngại trước đây của Đại Sứ Reinhardt cũng nhạt dần và tuyên bố rằng “cuộc trưng cầu dân ư chứng tỏ sự thành công lớn lao của chính quyền Diệm.” Ông nói rằng kết quả của cuộc bầu cử tuy không chứng tỏ Diệm chiếm được đa số ủng hộ tại Miền Nam nhưng nó khiến chính quyền hầu như có thể tiến hành một cuộc phổ thông đầu phiếu hiển nhiên không thể tranh căi (unchallenged). (104) Bên cạnh một vài cuộc tấn công rải rác vào địa điểm bỏ phiếu của lính Ḥa Hảo, những công khai chống đối Diệm kiểm soát hoàn toàn cuộc bầu cử chỉ là con số không. (105) Không bày tỏ tinh thần dân chủ thực sự, các giới chức Hoa Kỳ nhiệt liệt chúc mừng khả năng của Diệm dẹp tan sự chống đối của các giáo phái, công sản và những người thân Bảo Đại.
Hơn thế nữa, cho dù có những lo ngại của Đại Sứ Reinhardt trước cuộc bầu cử, báo chí Hoa Kỳ nhiệt liệt ca ngợi cuộc bỏ phiếu ở Miền Nam như là chiến thắng vĩ đại của nền dân chủ và là cú đấm vào chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Những người bàng quan ở Midwest (Vùng Trung Tây Hoa Kỳ) đă giải thích kết quả cuộc trưng cầu dân ư “là cuộc bỏ phiếu áp đảo bày tỏ niềm tin (vào Diệm) và là sự hết ḷng ủng hộ các nguyên tắc dân chủ mà Diệm là người tiêu biểu.” (106) Một tờ báo ở Ohio viết như sau “Một dân tộc hầu như không biết dân chủ là ǵ đă đi tới pḥng phiếu vào ngày Chủ Nhật và để lại một lời tuyên phán với bản năng suy luận đúng đắn.” (107) Tuy nhiên, các nhà b́nh luận tại các trung tâm đô thị lớn của Hoa Kỳ th́ lại hoài nghi nhiều hơn. Henri Lieberman của tờ New York Times viết như sau “Con số đông đảo người đi bỏ phiếu khắp Miền Nam làm cho sự kiểm soát của chính quyền Diệm có vẻ như tỏa rộng khắp nơi khác hẳn với ư nghĩ trong đầu của các nhà quan sát ở đó.” (108)
Cả phe lạc quan lẫn phe bi quan đều ghi nhận rằng chiến thắng của Diệm trong cuộc trưng cầu dân ư chắc chắn sẽ loại bỏ cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước dự trù tổ chức vào mùa Xuân năm tới. Tờ New York Times số ra ngày 24 Tháng Mười chỉ rơ “Chiến thắng áp đảo của Diệm thực chất loại trừ khả năng tiến hành cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước Tháng Bảy năm tới theo quị định của Hiệp Định Genève.” (109) C̣n Diệm đă làm sáng tỏ sự nghi ngờ này vào ngày 25 Tháng Mười khi tuyên bố rằng ông chỉ tiến hành những cuộc thương nghị để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử khi nào “thực sự tự do” được thiết lập tại Miền Bắc. (110) Nh́n chung, kết quả này làm Hoa Kỳ nhẹ nhơm với những lo sợ v́ sự xụp đổ hàng loạt như quân bài Domino khắp Vùng Đông Nam Á.
Đối với rất nhiều nhà báo Hoa Kỳ th́ cuộc trưng cầu dân ư được coi là đáng kể nhất trong chức năng củng cố nền chính trị của Miền Nam đang tách rời khỏi Pháp và nhích về phía Hoa Kỳ. (111) Người Hoa Kỳ coi cuộc trưng cầu dân ư Tháng Mười là cái tát vào mặt và cũng là sự tủi nhục của nước Pháp. V́ người Pháp đă đánh bài (liều lĩnh) trong việc chống đối Diệm và đưa Bảo Đại lên như vị lănh đạo tối cao của Miền Nam, việc truất phế Bảo Đại báo hiệu những nỗ lực c̣n rơi rớt lại để nắm quyền của Pháp hoàn toàn chấm dứt. (112) Dù rất nhiều người Hoa Kỳ tiên đoán đây là bước tích cực, một bước khiến Diệm có đủ thẩm quyền để điều hành một chính quyền hữu hiệu một lần cho dứt khoát, c̣n một số lại lo ngại về những rắc rối chính trị trong tương lai. (113) Việc trục xuất người Pháp đẩy Hoa Kỳ vào thế cô lập và là cường quốc Tây Phương duy nhất can dự vào Việt Nam, một sự kiện ám ảnh Hoa Thịnh Đốn những năm sau đó.
Các nhà ngoại giao và kư giả Pháp đương nhiên giải thích cuộc trưng cầu dân ư c̣n xa hơn là cái tát vào mặt. Dù Pháp mau chóng thừa nhận Việt Nam Cộng ḥa của Diệm, truyền thông Pháp để lộ sự bồn chồn của cả nước đối với chiến thắng của Diệm. Trước ngày bầu cử, các giới chức Pháp ở Sài G̣n lo sợ bộ tham mưu của Diệm sẽ dùng cuộc trưng cầu dân ư như là một bằng chứng để không c̣n bị ràng buộc bởi những thỏa hiệp quốc tế, từ đó có thể sẽ giải tán ngay Bộ Chỉ Huy Cao Cấp Pháp (French High Command). Người Pháp sợ rằng hành động này khiến Pháp không c̣n khả năng thi hành những điều khoàn của Hiệp Định Genève dưới vĩ tuyến 17. Một vài nhà báo Pháp cho rằng kế hoạch truất phế Bảo Đại nằm trong kế hoạch của Hoa Kỳ phá ngầm Hiệp Định Genève bằng cách đỡ đầu cho một cuộc bầu cử riêng lẻ tại Miền Nam. (115) Họ mô tả cuộc trưng cầu dân ư là bước đầu trong hai bước trong chiến thuật của Diệm nhằm phá hoại việc tái lập ḥa b́nh, thống nhất đất nước, loại trừ mọi chống đối nói chung và loại trừ ảnh hưởng của Pháp nói riêng. Việc bầu cử Quốc Hội cho Miền Nam sẽ là bước hoàn tất âm mưu của Diệm. Rất nhiều nhà quan sát Pháp lo ngại rằng một hành động như thế làm tổn hại nghiêm trọng tới mối bang giao Pháp-Mỹ và ngăn chặn mọi khả năng tái lập thương nghị giữa hai miền Nam Bắc. (116)
Tờ Le Monde thận trọng trước hy vọng về tương lai dân chủ với chính quyền của Diệm, một vài tờ báo khác nhấn mạnh rằng thủ tục tiến hành bầu cử hoàn toàn thiếu dân chủ và đặt dấu hỏi về kết quả của nó. Một vài tờ báo khác cho rằng sự thiếu vắng tiếng nói đối lập ở Sài G̣n là bằng chứng đàn áp hơn là sự nhất trí (của người dân). (117) Theo hăng thông tấn Paris, gần 50% cử tri né tránh không bỏ phiếu điều này giải thích chiến thắng áp đảo của Diệm. Diệm thu đạt được tất cả số phiếu chỉ v́ không có người nào nói xấu Diệm lại muốn đến pḥng phiếu để gánh lấy phiền phức. (118)
Mầm mống chống đối
Quan trọng hơn những phản ứng của Pháp và Hoa Kỳ về chiến dịch của Diệm là thái độ của các nhà lănh đạo đối lập Việt Nam. (119) V́ Diệm tiến hành cuộc trưng cầu dân ư và coi đó như là phong trào dân chủ vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, các đối thủ đă công kích ông ta trên luận điểm cho rằng những cam kết về dân chủ chỉ là những lời tuyên truyền. Thật vậy, cuộc bầu cử được vẽ ra, đủ thứ cả nhưng không phải là dân chủ. Một thành viên trong nội các cũ của Diệm là Cao Văn Luận nhớ lại một buổi nói chuyện trong đó Diệm than phiền là có quá nhiều mầm mống chống đối đe dọa gây hỗn loạn ở Miền Nam. Ông ta khẳng định rằng đất nước chỉ có một Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và một đảng là duy nhất là Đảng Cần Lao Nhân Vị (Personalist Labor Party) do Ngô Đ́nh Nhu điều khiển. V́ thế chính quyền phải thanh toán các đảng phái đối lập bằng vũ lực và loại trừ bất cứ khả năng đối lập chính trị công khai nào. Theo thống kê của một sử gia Miền Bắc về Mỹ-Diệm hoặc chế độ của Ô. Diệm được người Mỹ đỡ đầu, đă giết hoặc bỏ tù khoàng 93,362 binh sĩ đối lập, đảng viên và những người yêu nước giữa Tháng Bảy 1955 và Tháng Hai 1956 trong chiến dịch bạo động để thanh toán đối lập. (121) Có thể con số này đă được khuếch đại, nhưng chắc chắn nó biểu tỏ bầu không khí sợ hăi của người dân có thể đă làm ngăn trở tiến tŕnh dân chủ.
Thật vậy, có rất ít sự chống đối công khai trước cuộc trưng cầu dân ư, đặc biệt là một vài lănh tụ Cao Đài, Ḥa Hảo có thế lực vẫn c̣n nằm trong Hội Đồng Cách Mạng để giành giựt quyền hành trong chính phủ. (122) Nhưng những vị lănh đạo các giáo phái bất măn ở ngoài Hội Đồng đă thực sự bày tỏ sự chống đối, song hạn chế bởi thiếu sự thông tin. Vào ngày 22 Tháng Mười tướng Ḥa Hảo Trần Văn Soái loan báo mong có một chế độ thực sự dân chủ và tuyên bố cuộc trưng cầu dân ư là bất hợp pháp và kết quả của nó phải bị hủy bỏ. Ông ta kêu gọi “các quốc gia bạn và toàn dân Việt Nam hăy bất tín nhiệm thủ đoạn chính trị này.” (123) C̣n lực lượng Ḥa Hảo của Ba Cụt vẫn giao tranh với Quân Đội Quốc Gia tại miền tây của Nam Việt Nam, cũng đưa ra lời chỉ trích mưu đồ của Diệm. Trong một truyền đơn đề ngày 3 Tháng Mười 1955, Ba Cụt tố cáo cuộc trưng cầu dân ư là thời điểm “để qui tụ dân chúng khắp nơi để ép họ phải bày tỏ mục đích mà Diệm mong muốn : Đó là truất phế Vua Bảo Đại và tuyên bố bù nh́n Ngô Đỉnh Diệm làm tổng thống.” (124) Ba Cụt cho rằng đây là một bằng chứng về một âm mưu của Hoa Kỳ nhằm “Thiên Chúa Giáo Hóa” Việt Nam, v́ Diệm không phải chỉ dùng số tiền 2 triệu đô-la của viện trợ Mỹ mà c̣n xử dụng 2 triệu đô-la của các tổ chức Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ cho cuộc trưng cầu dân ư. Theo Dân Xă Đảng (cũng thuộc Ḥa Hảo) th́ Diệm đă dùng viện trợ Mỹ cho mục tiêu không chính đáng (less than honorable use). Phát ngôn viên của Dân Xă Đảng nói rằng “Diệm đă hối lộ các tổ chức công nhân, mua chuộc thanh niên sinh viên viết thỉnh nguyện thư ủng hộ Diệm để lên chức tổng thống và truất phế Vua Bảo Đại.” (125)
Vào thời điểm mà cuộc bầu cử Quốc Hội tiến hành vào Tháng Ba 1956 những cuộc chống đối rải rác trước đây nay trở thành chín muồi. Đây một phần, chắc chắn là v́ Diệm giải tán Hội Đồng Cách Mạng vào ngày 15 Tháng Giêng 1956 và một phần v́ hàng loạt các cuộc bố ráp khiến hầu hết các đảng viên của các đảng phái phải sống lưu vong hoặc trốn vào chiến khu vùng Tây Nam Việt Nam. (126) Họ cảm thấy bị lừa và phản ứng lại bằng cách liên kết với các đảng phái quốc gia khác đă bị loại trừ để mạnh mẽ tố cáo Diệm đă dùng những phương tiện dân chủ giả hiểu để củng cố quyền hành. Tới Tháng Ba, họ cũng bắt chước cộng sản bằng cách dùng danh từ Mỹ-Diệm (America-Diệm) và thêm vào đó một số lời tố cáo như Tôn Giáo Trị (Religious Government) và Gia Đ́nh Trị (Family Government).
Kết luận
Việc tái lượng giá Cuộc Trưng Cầu Dân Ư Truất Phế Bảo Đại vào 23 Tháng 10 lần này, qua sự soi sáng của các tài liệu Việt ngữ cho thấy Diệm đă long trọng hứa hẹn dân chủ và quyền dân tộc tự quyết cho toàn dân miền Nam. Cho tới ngày hôm nay, các sử gia đều đồng loạt kết luận rằng Diệm chỉ công bố dân chủ ở cửa miệng (lip service democratic) trên chính trường quốc tế để vui ḷng người Mỹ đỡ đầu, song những lời cổ vũ ồn ào về dân chủ tŕnh bày trong tài liệu này chứng tỏ rằng tự thân Thủ Tướng cũng tin tưởng vào những giá trị của dân chủ, ít ra trên b́nh diện trừu tượng. Trong khi cổ vũ dân chủ lại loại trừ đối lập đó là một phần của cuộc “Cách Mạng Nhân Vị” (Personalist Revolution) của anh em họ Ngô mà Edward Miller đă diễn tả “đó là cái nh́n rộng lớn để thấy Việt Nam có thể đă được chuyển hóa và tân tiến hóa như thế nào.” (127)
Hơn thế nữa, việc không giữ đúng lời hứa về quyền b́nh đẳng và quyền tự do cá nhân đưa ra trong những cuộc vận động đă giúp giải thích nỗi bất b́nh của người dân Miền Nam Việt Nam phản ứng lại chế độ áp bức của Diệm những năm sau đó. Vào Tháng Mười 1955 Thủ Tướng tuyên bố cách mạng xă hội để giải phóng người dân ra khỏi chế độ phong kiến lạc hậu và loại trừ lănh đạo vô đạo đức. V́ thất bại trong việc thay thế chế độ cũ bằng một chế độ mới dân chủ hơn, chính những lời hứa long trọng về dân chủ này đă giúp cho những thành phần chống đối đưa ra những chiến dịch chống lại ông. Từ Tháng Mười 1955, các nhóm chống đối tại Miền Nam đă tố cáo Diệm không những là nhà lănh đạo bất tài (poor leadership) mà c̣n đạo đức giả (hypocrisy). Trong đoàn kỳ, Diệm thành công trong việc ngăn chặn trước cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước dự trù vào năm 1956, thiết lập được một chính quyền tự trị (autonomous state), nhưng trong tiến tŕnh này ông đă gieo rắc mầm mống chống đối cuối cùng đưa đến sự sụp đổ của chính ông và thất bại của Việt Nam Cộng ḥa.
Một mặt khác, các nguồn tài liệu của Mỹ cho thấy các giới chức Hoa Kỳ chỉ tập trung sự chú ư vào dư luận thế giới đối với cuộc trưng cầu dân ư hơn là chú tâm tới nội t́nh chính trị của Miền Nam. Các nhà hoạch định chính sách ở Hoa Thịnh Đốn và Sài G̣n chỉ lo ngại cuộc bầu cử thiếu dân chủ Tháng Mười ở chừng mực là nó có thể làm giảm uy tín của Diệm và bộ mặt của nước Mỹ trên trường quốc tế. Cả Dulles, Reinhartd và các đồng nghiệp không hề quan tâm để t́m hiểu xem người dân Miền Nam đă trải qua cuộc trưng cầu dân ư như thế nào và các thành phần đối kháng ở Miền Nam như Ḥa Hảo, B́nh Xuyên và Cao Đài. Hơn thế nữa, sự không chú ư tới nội t́nh chính trị của Miền Nam khiến cho Hoa Kỳ chỉ đứng nh́n một cách thụ động trong khi Diệm tự làm suy giảm uy quyền của ḿnh và cũng khiến Hoa Thịnh Đốn không có cách (ill equipped) để giải thích và đối phó với kết quả tệ hại cuối cùng khiến Diệm bội hứa và tiến hành chính sách đàn áp. Trong nhiều thập niên, các sử gia đă hết sức khó khăn (phải chật vật) để giải thích lư do tại sao Hoa Kỳ lại ủng hộ Diệm trong khi ông ta thi hành chính sách độc tài. Michael Latham và một số sử gia khác cho rằng Hoa Kỳ đă dựa trên phán đoán sai lầm về lư thuyết tân tiến hóa để biện minh cho việc ủng hộ chính sách chính trị đạo đức giả của Diệm. (128) Với nhận thức sai lầm đó, các giới chức Hoa Kỳ hy vọng rằng việc thiết lập một chính thể cộng ḥa tại Nam Việt Nam và tài trợ cho các chương tŕnh phát triển kinh tế dưới vĩ tuyến 17 sẽ đưa Miền Nam đi vào quỹ đạo phát triển trong khi Miền Bắc sống ray rứt dưới chế độ công sản áp bức. C̣n David Anderson cũng hỗ trợ lối giải thích này, ông viết “Eisenhower và các cố vấn của ông tin rằng thời điểm lúc bấy giờ đứng về phía họ” – rằng cộng sản miền Bắc cuối cùng sẽ bị đánh bại nếu như nó bị chặn lại một thời gian vừa đủ. (129) Một vài sử gia khác lại cho rằng thái độ độc lập của Diệm khiến Hoa Kỳ rất khó xử (có rất ít chọn lựa). Ed Miller cho rằng từ năm 1954 “Diệm vừa không muốn chịu ơn Hoa Kỳ vừa không có khuynh hướng nghe lời cố vấn của Hoa Kỳ.” (130) Tuy nhiên những tài liệu liên quan đến cuộc trưng cầu dân ư chứng tỏ rằng các giới chức Hoa Kỳ đă không nỗ lực thật sự để t́m hiểu tính phức tạp của chính trường Miền Nam. Sự hiểu biết về nội t́nh Miền Nam như vậy chính ra hết sức cần thiết để Hoa Thịnh Đốn hoạch định các chính sách một cách hữu hiệu và đưa ra lời cố vấn mà ḿnh mong muốn, thích hợp với sắc thái văn hóa và chính trị của Miền Nam. V́ thế Hoa Kỳ, ở một chừng mực nào đó đă chọn lựa thái độ làm ngơ thay v́ gây ảnh hưởng đối với Diệm.
Phần cảm tạ
Tác giả xin chân thành cảm tạ những vị và những cơ quan dưới đây đă cố vấn và hỗ trợ :
The Pacific Rim Research Program, the Institute for International Education, the Institute on Global Conflict and Cooperation, Nguyễn Văn Kim, Mai Thị Tuyết Anh, Fredrick Logevall, Toshi Hasegawa, Robert Brigham, Geerge Herring, Jessica Elkind, James Waite, Maeve Devoy, Carolyn Lewis, Sandra Dawson, Toshi Anono, John Abardelatti, David Shuster, Mark O’Tool, and the two anonymous readers for Diplomatic History.
tm