Romano
01-10-2015, 18:25
Bài viết ngắn dưới đây là quan điểm của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Quang Đức, tiêu đề do nhóm biên tập TTXVA đặt. Mọi quan điểm phản hồi mong quư độc giả tường tŕnh lịch thiệp dưới bài viết này hoặc gửi về hộp thư TTXVA, chúng tôi hân hạnh được phúc đáp !
Sáng nay dạy lớp Hán Nôm vỡ ḷng, tôi bất chợt nhớ đến câu nói của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908 – 1993) : “Tinh hoa của các nhà thơ cổ điển Việt Nam nằm ở chữ Hán” với lời chú thích “phiên âm Hán Việt, đây là tiếng Hán của người Việt“. Việc không dạy/học nguyên tác Hán văn, chỉ lựa chọn vài bài thơ mang tính chính trị, “chở đạo”, thông qua bản dịch quốc ngữ, đă khiến nhiều thế hệ học sinh không cảm nhận được vẻ đẹp từ tư tưởng, tâm hồn cũng như ngôn từ của các nhà thơ Việt Nam từ thời Nguyễn đổ về trước.
Đây là hai trang PowerPoint bài 22 dạy ở lớp Hán Nôm vỡ ḷng, minh họa câu thơ ”Hồi trạo túc hoa biên” (迴棹宿花邊 / Trở mái chèo, quay về nghỉ cạnh lùm hoa) trong bài Lâu thượng ngẫu đắc (樓上偶得) của Nguyễn Siêu (阮文超, 1798 – 1872), một bậc văn tài thời Nguyễn. Khi học một chữ mới, học viên được giới thiệu các ví dụ đi kèm, dẫn từ các bài thơ chữ Hán của các nhà thơ Việt Nam từ thời Lư cho đến thời Nguyễn. Như từ TRẠO (棹 / mái chèo), có những câu thơ ví dụ sau :
◆ Nguyễn Trăi : “B́nh minh các TRẠO thướng nham đầu” (平明擱棹上岩頭 / B́nh minh gác mái chèo, leo lên đầu núi).
◆ Phạm Đ́nh Hổ : “Ngư chu phản TRẠO chính hoàng hôn” (漁舟反棹正黃昏 / Thuyền chài trở mái chèo quay về đúng hoàng hôn).
◆ Cao Bá Quát : “Phiếm TRẠO lai không tế, xuy tiêu tọa thượng đầu” (泛棹來空際 / Lướt mái chèo về phía chân trời, thổi tiêu ngồi ở đầu thuyền).
◆ Nguyễn Tư Giản : “Ngư đăng bất tri xứ, yên tế TRẠO ca thanh” (魚燈不知處, 煙際棹歌聲 / Đèn nhà chài không rơ ở nơi nao, trong vùng sương khói có tiếng hát chèo đ̣).
◆ Lê Cảnh Tuân : “Đoản TRẠO các t́nh sa, tiền thôn nhật dĩ tà, tự vô hoàn tự hữu, yên tế lưỡng tam gia” (短棹擱晴沙, 前村日已斜。 似無還似有, 煙際兩三家。 / Mái chèo ngắn gác lên băi cát nắng ; thôn phía trước, mặt trời đă xế chiều. Cảnh như không lại như có, trong lớp khói mờ có ba mái nhà).
Nói rằng, cần phải khôi phục Hán văn Việt Nam chắc chắn sẽ gây nhiều tranh căi. Sở học khác nhau, tư duy khác nhau, cho nên cũng không nhất thiết phải đôi co, nhất là trong thời điểm hiện tại. Suy cho cùng, Âu hóa là vận mệnh bất khả kháng của dân tộc này. Song, ruồng bỏ văn hóa, xuyên tạc quá khứ, đặc biệt sự thối nát của chính trị đă khiến cho người Việt hiện nay khủng hoảng về mọi mặt. Theo điểm nh́n của tôi, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là tấm gương thiết thực nhất của Việt Nam.
tm
Sáng nay dạy lớp Hán Nôm vỡ ḷng, tôi bất chợt nhớ đến câu nói của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908 – 1993) : “Tinh hoa của các nhà thơ cổ điển Việt Nam nằm ở chữ Hán” với lời chú thích “phiên âm Hán Việt, đây là tiếng Hán của người Việt“. Việc không dạy/học nguyên tác Hán văn, chỉ lựa chọn vài bài thơ mang tính chính trị, “chở đạo”, thông qua bản dịch quốc ngữ, đă khiến nhiều thế hệ học sinh không cảm nhận được vẻ đẹp từ tư tưởng, tâm hồn cũng như ngôn từ của các nhà thơ Việt Nam từ thời Nguyễn đổ về trước.
Đây là hai trang PowerPoint bài 22 dạy ở lớp Hán Nôm vỡ ḷng, minh họa câu thơ ”Hồi trạo túc hoa biên” (迴棹宿花邊 / Trở mái chèo, quay về nghỉ cạnh lùm hoa) trong bài Lâu thượng ngẫu đắc (樓上偶得) của Nguyễn Siêu (阮文超, 1798 – 1872), một bậc văn tài thời Nguyễn. Khi học một chữ mới, học viên được giới thiệu các ví dụ đi kèm, dẫn từ các bài thơ chữ Hán của các nhà thơ Việt Nam từ thời Lư cho đến thời Nguyễn. Như từ TRẠO (棹 / mái chèo), có những câu thơ ví dụ sau :
◆ Nguyễn Trăi : “B́nh minh các TRẠO thướng nham đầu” (平明擱棹上岩頭 / B́nh minh gác mái chèo, leo lên đầu núi).
◆ Phạm Đ́nh Hổ : “Ngư chu phản TRẠO chính hoàng hôn” (漁舟反棹正黃昏 / Thuyền chài trở mái chèo quay về đúng hoàng hôn).
◆ Cao Bá Quát : “Phiếm TRẠO lai không tế, xuy tiêu tọa thượng đầu” (泛棹來空際 / Lướt mái chèo về phía chân trời, thổi tiêu ngồi ở đầu thuyền).
◆ Nguyễn Tư Giản : “Ngư đăng bất tri xứ, yên tế TRẠO ca thanh” (魚燈不知處, 煙際棹歌聲 / Đèn nhà chài không rơ ở nơi nao, trong vùng sương khói có tiếng hát chèo đ̣).
◆ Lê Cảnh Tuân : “Đoản TRẠO các t́nh sa, tiền thôn nhật dĩ tà, tự vô hoàn tự hữu, yên tế lưỡng tam gia” (短棹擱晴沙, 前村日已斜。 似無還似有, 煙際兩三家。 / Mái chèo ngắn gác lên băi cát nắng ; thôn phía trước, mặt trời đă xế chiều. Cảnh như không lại như có, trong lớp khói mờ có ba mái nhà).
Nói rằng, cần phải khôi phục Hán văn Việt Nam chắc chắn sẽ gây nhiều tranh căi. Sở học khác nhau, tư duy khác nhau, cho nên cũng không nhất thiết phải đôi co, nhất là trong thời điểm hiện tại. Suy cho cùng, Âu hóa là vận mệnh bất khả kháng của dân tộc này. Song, ruồng bỏ văn hóa, xuyên tạc quá khứ, đặc biệt sự thối nát của chính trị đă khiến cho người Việt hiện nay khủng hoảng về mọi mặt. Theo điểm nh́n của tôi, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là tấm gương thiết thực nhất của Việt Nam.
tm