VietBF - View Single Post - CHUYỆN LINH TINH BUỒN VUI TRONG ĐỜI
View Single Post
Old 12-27-2020   #325
hoathienly19
R4 Cao Thủ Vơ Lâm
 
Join Date: Sep 2020
Posts: 842
Thanks: 1,657
Thanked 1,149 Times in 509 Posts
Mentioned: 3 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 23 Post(s)
Rep Power: 5
hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7
hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7hoathienly19 Reputation Uy Tín Level 7
Default NOEL Ở CẨM - NHÂN



NOEL Ở CẨM - NHÂN



Tháng 7 năm 1976
tàu Sông Hương cập bến Hải-Pḥng. Chúng tôi, khoảng ba ngàn tù cải tạo, cựu sĩ quan của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa, được chuyển lên tạm nghỉ một ngày ở Sáu-Kho.

Trong chuyến đi này, đội ngũ hành khách tù binh đă hao hụt mất hai người.

Một người bị trượt chân, rớt từ sàn tàu xuống nước ch́m luôn ở Tân-Cảng, Sài-G̣n đêm khởi hành. Người thứ nh́ chết trên tàu giữa biển khơi.

Trước đây, trong tháng 6 năm 1976,
cũng đă có vài chuyến tàu chuyển tù, ghé bến Sáu-Kho. Nhưng trí ṭ ṃ của dân địa phương, nhất là những đứa trẻ con, vẫn bị lôi cuốn bởi h́nh ảnh khác thường của đoàn hành khách mới tới.

Người từ phương Nam ra, đi từng cặp một, tay trái của người đi bên phải, c̣ng với tay phải của người đi bên trái. Mọi người vai mang nặng, mặt mày buồn rầu, xanh xao, thân h́nh gầy g̣, tong teo. Họ nối đuôi nhau đi thành hàng im lặng, cúi đầu không nh́n ai. Hai bên là những họng súng AK với lưỡi lê tuốt trần. An ninh thật là nghiêm ngặt.






Đoàn tù được lùa vào khu đất rộng, có sáu cái nhà ṿm dài và cao bằng tôn. Xung quanh khu nhà ṿm này là băi cỏ cháy khô, hôi thối, v́ đây là băi đại tiện lộ thiên, công cộng, của xóm dân cư lao động gần đó. Quanh đây, dày đặc hố bom B 52 khổng lồ. Nước trong hố bom màu cà phê sữa lợt, mặt nước lác đác bèo tấm.

Sau khi được cởi khóa cái c̣ng, tôi gởi ba-lô cho anh bạn tù Ngô Văn Niếu giữ giùm. Tôi lang thang trên sân cỏ Sáu-Kho, rồi tạt vào căn nhà ṿm của những tù binh cấp úy. Vừa bước qua cửa đă có người nhận ra tôi rồi. Anh ta ôm chầm lấy tôi, xuưt xoa :

– Thái Sơn ! Anh c̣n sống ư ? Độ đây! Em nghe đồn anh chết ngày Ba Mươi. Vậy mà anh c̣n đây. Ôi ! Mừng quá ! Anh ngồi xuống đi !

Anh Phạm Xuân Độ là đại úy sĩ quan chỉ huy hậu cứ của Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân. Chúng tôi quen nhau lâu lắm rồi, từ ngày Độ mới từ Lực Lượng Đặc Biệt chuyển sang Biệt Động Quân.

Độ cầm tay tôi, cao giọng giới thiệu với bạn của anh ta,

– Đây là Thái-Sơn, đàn anh của tớ. Xin giới thiệu với các bồ, để các bồ quen biết một đàn anh, đúng nghĩa một đàn anh.

Nghe anh Độ quảng cáo ồn ào như thế, những người bạn của anh ta liền tỏ thiện cảm với tôi ngay. Họ kéo tôi ngồi xuống manh chiếu góc nhà. Họ mời tôi hút thuốc lào. Họ tíu tít hỏi tôi ở trại nào trong Nam ? Tôi có quen, có gặp người này, người kia hay không ?

Sau khi quân đội ta tan ră, nhiều cấp chỉ huy trở thành những cái bia hứng chịu phỉ nhổ của người dưới. Tuy thế, cũng có nhiều cấp chỉ huy trở thành nỗi luyến tiếc cho thuộc cấp, mỗi khi họ nói về kỷ niệm một thời đă qua.

Cũng may, cái cung cách chỉ huy nghiêm khắc tại mặt trận và thân ái ḥa đồng ở hậu cứ của tôi, không làm thuộc cấp ghét bỏ hay hận thù.

V́ thế mà hôm ấy, ở một nơi ngh́n trùng xa Sài-G̣n, vào cái thời buổi không c̣n ǵ nhục nhă hơn, thật khó tin c̣n có người lễ phép mời ḿnh ngồi uống ly cà phê nấu bằng cơm cháy pha với đường thẻ, rồi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm oanh liệt, vàng son.






Một người vừa sà xuống chiếu, nh́n tôi gật đầu chào thân thiện. Tôi vội vàng gật đầu chào lại.

Người sĩ quan này da ngăm ngăm. Má anh ta có cái nốt ruồi bằng hạt đậu. Dáng anh ta quen quen… Tôi ngờ ngợ đă gặp anh ta ở đâu đó?

Anh bạn mới, giọng Bắc trầm trầm, tự giới thiệu :

– Tôi tên là Trần Gia Toản, “ Toản Thuốc Lào” . Tôi là em ruột của Trần Gia Toàn cùng khóa với anh. Tôi là bạn thân của Độ. Tôi có rất nhiều bạn Biệt Động Quân. Bạn tôi ai cũng thương anh và phục anh lắm. Tôi đă nghe tên anh nhiều lần. Nay có dịp gặp anh, thật là hân hạnh.

Tôi chợt hiểu, th́ ra anh ta là em ruột của Trần Gia Toàn, bạn cùng Khóa 20 Vơ Bị của tôi. Anh em nhà này giống nhau quá, hèn nào tôi thấy anh ta trông quen quen…

Những người tuổi trẻ thích nói thật, không ṿng vo, quanh co. Hiểu nhau rồi th́ chúng tôi dễ trở thành thân. Từ hôm ấy tôi có thêm một số bạn.

Những người bạn mới lấy ḿ gói ra, giấy bao ḿ gói trở thành củi, cái lon Guigoz trở thành nồi, vỉ cơm cháy trở thành cà phê.

Bỗng nhiên, tôi thành người khách quư của nhóm bạn tù cấp úy trong góc một căn ṿm Sáu-Kho hôm ấy.

Ăn ḿ xong, chúng tôi chuyền tay nhau ca cà phê cơm cháy. Uống cà phê mà không kèm theo khói thuốc th́ không đúng “gu”. Anh em mời tôi hút thuốc lào.

Khi biết tôi chưa tập hút được thuốc lào, th́ chỉ nháy mắt sau tôi đă có một bao thuốc lá Sài-G̣n Giải-Phóng.

Qua trao đổi với họ, tôi được tin tức của vài sĩ quan cấp úy cùng đơn vị như chú Lư Ngọc Châu, chú Trần Cao Chánh, chú Nguyễn Ngọc Khoan…

Tôi cũng có tin những bạn cũ đă chết v́ vượt trại như Quách Hồng Quang và Phạm Hữu Thịnh.

Buổi chiều, chúng tôi bị lùa xuống các hố B52, nước màu cà phê sữa, để tắm rửa. Lúc lên bờ, đỉa đói c̣n bám từng chùm, lủng lẳng trên vế trên đùi, chúng tôi giựt măi chúng không chịu nhả ra.

Sau khi được phát mỗi người một gói lương khô Trung-Cộng, đoàn tù được lệnh chuẩn bị đội ngũ chờ xe lửa để lên đường. Nghe đâu, người ta sẽ đưa chúng tôi lên mạn ngược, vùng biên giới Trung-Hoa, thuộc tỉnh Yên-Bái, Thái-Nguyên, Tuyên-Quang…

Chuyến xe lửa Hải- Pḥng Yên- Bái khởi hành lúc nửa đêm.


Chúng tôi được dồn lên những toa chở súc vật.
Cứ bốn mươi người một toa, khóa trái bên ngoài. Diện tích của toa xe chỉ đủ chỗ cho chúng tôi ngồi hoặc đứng chứ không thể nằm. Mỗi toa có bốn cái cửa ṭ ṿ to bằng bàn tay xoè nơi bốn góc.

Tôi chui vào chiếm một góc và tḥ mũi ra lỗ cửa ṭ ṿ để thở. Ngồi kế tôi là Thiếu tá Hoàng Đ́nh Mẫn nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 81 Biệt Động Quân. Thiếu tá Mẫn là vị tiểu đoàn trưởng già nhất của liên đoàn tôi. Ông Mẫn với tôi thương nhau như anh em.







Xe chạy được khoảng một giờ th́ không khí trong toa bắt đầu ngột ngạt.

Lúc lên xe, trưởng đoàn vệ binh có chỉ định anh cựu Đại úy tên là Thu làm trưởng toa.

Từ đầu hôm, anh Thu chiếm cái góc có thùng phuy vệ sinh. Giờ này, thùng cứt đái bắt đầu bốc mùi. Anh Thu bước tới góc cuối toa, và ra lệnh cho tôi nhường chỗ cho anh.

Tôi chưa kịp phản ứng th́ anh Thu đă dện một đạp vào mặt ông già Mẫn để dành cái cửa sổ. Lúc đó ông Mẫn đang ghé mũi vào cửa ṭ ṿ hít khí trời.

Ông Mẫn vừa ôm mặt khóc, vừa chửi rủa.

Anh Thu có dáng dấp của một vơ sĩ. Anh không cao lắm nhưng rất “đô” con.

Anh cởi áo và vắt những ḍng mồ hôi vừa nóng vừa nồng trên đầu tôi v́ lúc đó tôi ngồi dưới chân anh. Rồi anh ngồi xuống bên tôi, tḥ mũi ra lỗ ṭ ṿ. Mồ hôi của anh nồng kinh khủng . Tôi nhè nhẹ đẩy anh ra xa tôi một chút .

Anh hậm hẹ ,

– Đù mạ ! Lộn xộn ăn đ̣n à con ! Mày nhỏ con, tao cho ngồi cạnh để đỡ choán chỗ. Biết điều th́ ngồi êm ! Cục cựa ông bẻ răng à !

Anh Thu ngồi chồm hổm, nách anh choàng qua gáy tôi. Mùi hôi nách làm tôi tắc hơi. Tôi lách đầu cho mũi tôi ghé vào một góc cửa sổ. Tôi hít lấy, hít để cái không khí thơm mùi đ̣ng đ̣ng, lúa mới ngoài kia.






Chợt anh tù trưởng toa hẩy mạnh vai, mặt tôi đập vào thành xe nghe “kịch!” một cái, đau tới hoa cả mắt .

– Ê ! Ê ! Ê !… anh này chơi ác quá vậy ?

Trong lúc quưnh quáng, tôi quưu lưỡi, nói xàm như một đứa bé.

Chưa xong, hai bàn tay hộ pháp của tên du côn chẹt cổ tôi, tống tôi vào góc xe,

– Ngồi im ! Cục cựa ông bóp chết !

Tôi chợt cảm thấy có cái ǵ đó ứ nơi cổ.

Mặt tôi nóng dần. Tay tôi run run. Tôi hít vào một hơi dài, rồi thở ra từ từ.

Tôi ra chiều ngồi êm, nhưng tay tôi ṃ t́m… ṃ t́m…

Tôi t́m được nó rồi! Cái nĩa U.S bằng inox, tôi cài nó trong cái túi bên hông ba lô…

Cú đâm quyết định bị trệch mục tiêu v́ thế ngồi quá chật. Cái nĩa đâm sượt mắt trái của anh vơ sĩ, rạch một vết rách sâu trên trán anh.

Tay trái tôi hất mạnh một cái cùi chỏ ngay cằm anh.

Anh chưa kịp la lên th́ cái nĩa đă nằm dưới yết hầu.

Tôi gh́ ngược cái nĩa bằng cả hai tay ngay yết hầu kẻ thù.

Nhiều lần đánh lộn thời học sinh, cũng như trong chiến trận sau này, tôi đă áp dụng thành thạo những đ̣n cận chiến học từ tuổi lên mười ở Trung-Tâm Huấn-Luyện Nhảy Dù Chèm Vẽ (1951-1954).

Hồi đó nhà tôi ở sát cạnh băi tập thể chất của lính Nhảy Dù Liên Hiệp Pháp trước cổng Đông làng Vẽ.

Ngày ngày chứng kiến tân binh Nhảy Dù học cận chiến, tôi thuộc nằm ḷng những thế dao găm đâm ngang, đâm dọc, đâm ngược, đâm xuôi…

Hơn hai mươi năm sau, trong một góc toa xe chở súc vật, tôi phải sử dụng cái thế đâm ngược lợi hại này, với một cái nĩa, để hạ một đồng đội.

Tôi chỉ cần nhấn mạnh thêm năm phân, rồi xoay hai tay theo chiều kim đồng hồ là cái yết hầu của thằng du côn sẽ bị móc ra khỏi cần cổ nó.

Tôi nghe tiếng :

– Em lạy anh, tha cho em !

Tôi lơi tay, nhổ nước miếng vào mặt anh vơ sĩ và nói nhỏ :

– Cút về bên cái cầu tiêu của mày mà ngồi. Tên tao là Vương Mộng Long, tao đă từng là Tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân. Sau khi xuống ga, mày có thể t́m tao bất cứ lúc nào.






Ông vơ sĩ trưởng toa ôm trán đầy máu ḅ về hướng đầu toa, trả lại cái cửa ṭ ṿ cho mười anh tù ở cuối toa thay phiên nhau ló mũi ra để hít chút không khí mà sống.

Tàu đi ngang cầu Phú-Lương, Hải-Dương, tôi xin anh em cho tôi được ngồi lâu hơn một chút nơi cửa sổ để ngắm nh́n cây cầu tuổi thơ của tôi.

Tôi đă đi qua cây cầu này bằng đôi chân trần tuổi lên sáu, từ vùng “Tề ” chạy giặc trở về thành phố Hải-Dương đổ nát điêu tàn.

Trong trí nhớ non nớt của tôi chỉ c̣n :

Cầu Phú-Lương đồng nghĩa với cầu Đen. Cầu dài lắm, những cái vài khổng lồ sơn đen, lính gác cầu cũng là lính Marốc da đen.

Tôi qua cầu một ngày cuối năm 1948.
Từ ấy tôi không c̣n thấy nó. Cho măi tới đêm nay, tháng 7 năm 1976 tôi mới có dịp qua cầu lần nữa.

Hôm nay, cầu Phú-Lương có vẻ đen hơn ngày xưa, v́ tôi qua đó vào lúc nửa đêm, trời tối như mực. Tôi nh́n cây cầu nơi chôn nhau cắt rốn từ cái cửa ṭ ṿ của một toa xe chở súc vật. Trong toa xe chở súc vật này là những sinh vật ưu tú của một dân tộc anh hùng.






Những sinh vật ưu tú ấy đang bị chuyển hóa thành súc vật. Những con vật này đang tranh sống. Chúng đang giết lẫn nhau để sống.

Toa xe lao nhanh. Động cơ hơi nước ph́ phà “śnh sịch! śnh sịch!” Bánh sắt rít trên tà vẹt nghe “ken két! ken két!” rợn người. Những thanh sắt vài cầu loang loáng sát thành xe.

Rồi tôi không nh́n được ǵ thêm, nước mắt đă rơi, nước mắt bốc thành hơi, đôi mắt cay…

Trời mờ sáng th́ tàu đi ngang Vĩnh-Phúc-Yên, những hố bom B52 c̣n như rất tươi trên ruộng lúa, dọc hai bên đường tàu. Những đoạn đường sắt ở đây cũng thấy như mới được đắp vá. Không khí trong xe ngột ngạt hơn.

Chúng tôi thay nhau cái lỗ ṭ ṿ với tốc độ mau hơn, quyền được thở giảm bớt. Người được thở tự đếm, “một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, hết !” rồi ngồi nhích sang một bên, nhường cho người kế tiếp.

Chúng tôi chia nhau từng giây không khí để sinh tồn.

Đôi người đă khóc, đôi người vẫn cười.

Giờ phút ấy có lẽ không ai c̣n nhớ đến vinh quang.

Nơi góc cuối của một toa xe chở súc vật, mười sĩ quan Quân Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa chia sẻ nhục nhằn để sống.

Ba góc c̣n lại của toa xe không có cái trật tự tự nguyện này. Đă có chuyện không hay.

Có ai đó nơi đầu toa bị ngộp thở . Tiếng người nói xôn xao :

– Làm hô hấp cho anh ấy đi !

Có tiếng la to :

– Anh bộ đội ơi ! Có người xỉu ! Anh bộ đội ơi !





Tàu vẫn chạy śnh sịch, śnh sịch… tiếng kêu cứu loăng trong không gian, không lời đáp lại.

Xế trưa hôm đó chúng tôi vào ga Yên-Bái. Đang phiên thở hít của tôi, tôi nghe tiếng người gọi nhau,

– Tù tới ! Tù tới !

Tôi thấy vài người dân vội vàng cúi lượm những viên đá xanh lót đường tà vẹt. Thấy không ổn, tôi thụt mũi vào trong toa.

Tôi nói với Thiếu tá Trần Ngọc Báu, Trưởng pḥng 2 Tiểu khu Pleiku là người kế phiên hít thở :

– Đừng ló mặt ra, dân nó ném đá đó!

Anh Báu không tin.

V́ tôi ngồi sát cửa với Báu, tôi nghe rơ tiếng reo :

– Thằng Mỹ mày ơi :

Rồi anh Báu ôm mặt. Mặt anh đầy máu. Một cục đá xanh đập vỡ mũi anh. H́nh như hai cái răng cửa đă nhảy ra khỏi miệng anh.

Khuôn mặt Tây lai của anh biến thành cái mặt nạ máu me bầy nhầy.

Cái cửa được bít lại ngay bởi cái thùng đựng đạn trung liên chứa nước của ông già Mẫn.

Đoàn xe lửa bị một trận mưa đá tới tấp tấn công.

Cho tới khi vài viên đá lạc vào toa xe của vệ binh th́ tôi nghe tiếng súng bắn chỉ thiên.

Rồi tiếng đá chạm thành toa cũng ngưng.

Đoàn xe ra khỏi ga chừng hai trăm mét th́ ngừng bánh. Tù được lệnh xuống xe. Tôi là một trong những người đạp đất sớm nhứt.

Không đội ngũ, đoàn tù bị lùa lên xe Zin chở về nơi nào đó đă định. Hai bên đường, có những người dân mặc trang phục Dao, Tày, Thái, Mán, Thổ, Mường… ngơ ngác trông theo.

Tới một ngă ba, cứ một xe rẽ về trái, th́ xe kế tiếp rẽ về phải. Th́ ra, đoàn tù được chia làm đôi, một nửa đi về Đông Bắc qua hồ Thác-Bà, nửa c̣n lại qua sông Hồng đi về hướng Tây. Chiếc xe chở tôi đi về hướng Đông Bắc.

Anh bạn cùng Khóa 20 Vơ Bị, cùng binh chủng Biệt Động Quân là Ngô Văn Niếu cũng ngồi chung một xe với tôi.

Đoàn 776 Cộng-Sản không đủ phương tiện đưa hết đoàn tù đi trong ngày. Chúng tôi được chia ra thành nhiều đợt lên ca nô vượt hồ.

Toán của tôi là toán chót, lên ca nô sau toán đầu hai ngày, hai đêm.

Hồ Thác-Bà rộng lắm, mỗi chiều cả chục cây số. Ca nô đưa chúng tôi đi ngược lên đầu nguồn sông Chảy, lướt chậm trên di tích của một thung lũng cổ.

Trong đám đọt cây khô giữa làn nước trắng, một gác chuông thánh giá đứng lẻ loi, phần dưới của nhà thờ ch́m trong nước.

Nắng mai từ đỉnh núi hướng Đông chiếu xuống mặt hồ, làm cho những đợt sóng lăn tăn lấp lánh như dát bạc…

Chúng tôi đến cuối Hồ Thác-Bà, hạ trại nơi không xa một xă người Tày. Xă đó tên là Cẩm-Nhân. Xă Cẩm-Nhân thuộc huyện Yên- B́nh, Yên-Bái, tỉnh Hoàng- Liên- Sơn, cách biên giới Việt-Trung gần 50 km.

Bên bờ hồ, nơi một băi lau sậy được đặt tên là Trại 3 Liên Trại 4, tôi và anh bạn Ngô Văn Niếu, Tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân nằm cạnh nhau. Lán trưởng của tôi lại là anh Đại úy tên Thu đă có lần tôi gặp cách đó hai ngày, trên chuyến xe lửa Hải-Pḥng Yên-Bái.






Anh Thu nh́n tôi như kẻ lạ, như chưa từng thấy nhau. Nh́n cái băng trên trán anh tôi nghĩ anh thật là chóng quên.

Tối đầu tiên ở đây, anh bạn già Nguyễn Tuyên Thùy cho tôi biết một tin buồn:

Có ông Thiếu tá dược sĩ tên là Duy vừa uống thuốc tự tử. Dược sĩ Duy được bó chiếu chôn bên cạnh hồ. Như vậy, trong Nam, gia đ́nh anh Duy sẽ là những người đầu tiên biết chồng con họ đang ở đâu.

Anh Nguyễn Tuyên Thùy đến đây từ tháng trước, nên chứng kiến nhiều chuyện. Anh c̣n nói rằng,

– Nghe đâu, có vài ba người chết ngộp trên chuyến xe lửa từ Vinh ra Yên-Bái hồi tháng trước…

Anh nói chuyện người chết, người sống nghe nhẹ như không. Mà thực vậy, lúc này sinh mạng một người tù thua trận nhẹ như không…

Sáng hôm sau anh Thu tập họp đồng đội trước lán để truyền lại nội quy của trại cho những người mới tới. Anh phân tích rơ tội nào sẽ bị h́nh phạt ǵ. Những tội cải thiện linh tinh sẽ bị cảnh cáo, cúp phần ăn.

Tội phát ngôn bừa băi có thể bị cùm, bỏ đói…Tội vượt trại có thể bị xử bắn…vân vân. Anh cảnh cáo rằng nếu ai đụng vào chai dầu lửa treo ở đầu giường anh th́ sẽ biết tay anh.

Tôi đi quanh trại, la cà tṛ chuyện cùng vài người quen.

Những vị này, thời chiến tranh Đông-Dương, 1945-1954 đă có dịp qua đây, như :

- Trung tá Nguyễn Hữu Phú cựu Tham mưu trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa

- Thiếu tá Hoàng Đ́nh Mẫn Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 81 Biệt Động Quân

- Thiếu tá Bùi Ngọc Long Tiểu đoàn trưởng Địa Phương Quân Tiểu khu Quảng Đức

- Thiếu tá Nguyễn Tuyên Thùy ở Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng những đàn anh lớn tuổi này cứ duỗi ra mỗi khi tôi hỏi họ về địa thế, dân t́nh quanh khu Thác-Bà.

Các vị ấy cứ lắc đầu :

– Đường xa diệu vợi lắm ! Đừng dại mà trốn trại ! Mất mạng đó em ơi !

Tôi cứ nghe các anh ấy can ngăn như thế mỗi khi tôi tỏ ư muốn… đi.






Cuối cùng tôi gặp Đặng Quốc Trụ, người bạn cùng khóa; anh ta đă từng là Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 48 Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Nghe tôi ngỏ ư t́m bạn đồng hành để đi Lào, anh Đặng Quốc Trụ hưởng ứng ngay…

Chúng tôi chưa biết rơ xă Cẩm-Nhân nằm ở nơi nào trên bản đồ Việt-Nam th́ toán trốn trại đầu đă nhổ neo. Bốn đại úy gồm hai ông ở Tổng Thống Phủ và hai ông pilots trực thăng. Đi được ba ngày th́ bốn Papillons bị bắt lại.

Ṭa án giữa đồng được thiết lập. Không có lời buộc tội nào từ phía cai tù Cộng-Sản, mà chỉ có quân ta kết tội lẫn nhau. Nghiêm khắc nhất là một cải tạo viên, nguyên là phi công trực thăng, đă đề nghị xử bắn những người đi trốn để anh ta được yên tâm cải tạo (!)

Vài người nữa lên phát biểu ư kiến xin trại phạt nặng những kẻ vô kỷ luật để làm gương cho những kẻ khác.

Ban chỉ huy Cộng-Sản của trại cũng không ư kiến. Ṭa giải tán.

Không ai dám hé răng bàn tán về những ǵ đă xảy ra.

Bốn anh trốn trại bị cùm trên đồi, gần ban chỉ huy trại.

Hai ngày sau, toán trốn trại thứ hai ra đi. Toán này gồm có hai người và được coi là có “kí lô”.

Họ là Đại úy Biệt Kích Trần Trung Ginh và Đại úy Nhảy Dù Tôn Thất Ủy (Ủy là tùy viên của Tướng Lưỡng, Tư lệnh Sư Đoàn Dù /Quân Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa).

Sau khi phát giác có thêm một vụ trốn trại nữa, cán bộ Chính Trị Cộng-Sản của Trại 3 tập họp tất cả chúng tôi lại, răn đe :

– Các anh sẽ phải trả giá . Không ai thoát khỏi mạng lưới của nhân dân. Cứ trốn đi ! Tôi thách các anh đấy !

Giữa đêm đó Vương Mộng Long và Đặng Quốc Trụ khăn gói lên núi. Cái bật lửa của bác Biệt Động Quân già Hoàng Đ́nh Mẫn nằm trong hành trang của tôi, và chai dầu lửa của anh đội trưởng tên Thu cũng nằm trong hành trang của tôi.

Vài ngày sau khi tôi và Trụ vượt trại, Trại 3 Liên Trại 4 bị giải tán, tù nhân được chia cho các Trại 5,7,9 kế bên.

Một đoàn tù từ bên hướng Tây sông Hồng được đưa về đây xây Trại 3 mới.

Cái đêm 8 tháng 8 năm 1976,
tôi và Đặng Quốc Trụ trốn trại lần đầu là một đêm mưa, khởi đầu trận băo Số 6 khốc liệt. Trận băo này gây nên mưa gió kéo dài hơn một tuần lễ.

Mười ngày sau chúng tôi bị mất hướng, luẩn quẩn trong rừng tre, rồi bị vây bắt lại.

Tên Việt-Cộng chấp cung tôi đă thẩm vấn tôi câu đầu

– Có phải anh Thu cho anh chai dầu lửa để anh đi trốn hay không?

Tôi “ thành khẩn ” khai báo :

– Thưa cán bộ không ạ! Tôi ăn trộm nó khi anh đội trưởng c̣n ngủ.

Tên cán bộ ngạc nhiên lẩm bẩm,

– Lạ nhỉ ? Vậy là anh Thu bị phạt oan, nhưng không hiểu tại sao anh ấy không tự biện bạch?

Từ đêm chui rào khỏi Trại 3, tôi không có dịp gặp lại anh Thu, không rơ đă có hậu quả ǵ đến cho anh sau khi tôi đi.

Tôi và Trụ được đưa về nhốt ở Trại 4 Liên Trại 4. Tại đây đă có 2 “đồng bọn” đang nằm cùm, đó là Trần Trung Ginh và Tôn Thất Ủy.

Cuối năm ấy tụi tôi được tha ra khỏi cùm để về đội lao động.

Nhiều dân trốn trại đă được quy tụ về đây trước đó. Trong số ấy có một băng Vơ-Bị gồm :

- Trần Tấn Ḥa (Nhảy Dù, k20 VB)

- Nguyễn Văn Nghiêm (Nhảy Dù, k20 VB)

- Trần Đăng Khôi (Nhảy Dù, k16 VB)

- Hồ Văn Ḥa (Biệt Động Quân, k16 VB)

- Chu Trí Lệ (SĐ23, k16 VB)

- Trần Bá Huệ (Phủ Tổng Thống, k16 VB)

- Trần Đ́nh Bính (Phủ Tổng Thống, k14 VB).

Anh Đặng Quốc Trụ được đưa về Đội 10 dưới quyền đội trưởng là cựu Trung tá Lâm Kỳ Sáng.

Tôi về Đội 11 dưới quyền cựu Đại úy Đặng kim Bảng.

Vừa chui vào lán, tôi đă nghe giọng Bắc Kỳ quen,

– Mừng đại ca, đại ca có nhận ra em không ?

Dù lúc đó là buổi chiều mùa Đông, trong lán tranh tối tranh sáng, tôi vẫn nhận ra ngay Toản Thuốc Lào.

– Quên sao được hả chú ! Mới tháng trước đây, chúng ḿnh chia tay nhau ở Sáu-Kho…





Ngay lúc ấy người đội trưởng bước vào, anh ta nói tôi sẽ được cử đi gánh gạo tiếp tế chiều nay cùng với đội ở bên Cẩm-Nhân.

Sau nhiều ngày nằm cùm, mới đi được hai cây số đường đồi tới chợ Cẩm-Nhân, chân tôi đă muốn ră ra rồi. Đến Hợp-Tác Xă Nông-Nghiệp tôi gặp hai anh bạn cùng khóa là Nguyễn Xuân Hoè và Vũ Văn Minh; hai anh này ở trại khác, cũng đi gánh gạo chiều nay, mừng mừng, tủi tủi.

Bên kia đường, tôi thấy có người đưa tay vẫy. Tôi t́m trong óc xem có phải anh ta cùng khóa với ḿnh không ? Không ! Hóa ra đó là anh Thu !

Thấy anh, tôi nhớ chuyến tàu hôm nào từ Hải-Pḥng đi Yên-Bái.

Tôi nhớ ra chai dầu lửa anh cố t́nh treo trên lối ra vào của lán tù Trại 3. Đêm vượt trại, chỉ cần giơ tay, tôi đă nẫng được chai dầu một cách nhẹ nhàng.

Tôi định đưa tay vẫy lại cái vẫy tay của anh Thu, th́ đoàn tù gánh gạo ấy đă đi xa rồi.

Hôm đó, tiêu chuẩn chung của trại, trọng lượng cân đo, đúng 150 kg cho một chuyến hai người.

Toản cao hơn tôi, Toản đi sau, tôi đi trước.

Chúng tôi phải ḥ “Dô ta!” để lấy đà đứng lên.

Toản ḥ “Dô… ta!” rồi, nhưng Toản không đứng lên.

Toản cúi xuống lượm cái ǵ đó. Tôi hỏi :

– Sao không đi Toản ?

Toản cười,

– Em có quà cho đại ca !

Anh ngước mắt lên, vui sướng đưa cho tôi một cục kẹo đường đen,

– Em lượm được cục kẹo, anh ăn cho hồi sức đă mất trong nhà cùm.

Tôi cảm động, nhận cục kẹo đường đen to bằng đầu ngón tay út.

Toản cười :

– Anh có nhớ hôm nay là Noel đó không?

Tôi cắn cục kẹo làm hai, đưa cho Toản một nửa,

- Merry Christmas!

Thấm thoắt đă mấy chục năm đi qua.

Tôi thấy buồn khi nh́n Noel trở lại.

Tôi thấy buồn khi nhớ ra, bây giờ tôi không c̣n sức để gánh chung cùng bạn một gánh gạo nặng 150 kg trên đoạn đường đồi dài 2 km nữa rồi!

Noel nào tôi cũng nhớ tới buổi chiều đi gánh gạo, nhớ cái vẫy tay của anh Thu, nhớ chai dầu lửa, nhớ cục kẹo đường đen ở Cẩm-Nhân, và nhớ Trần Gia Toản cùng những người bạn tù thuở ấy…

Vương Mộng Long

(Seattle, Noel 2004)

https://hon-viet.co.uk/VuongMongLong_NoelOCamNhan.htm
hoathienly19_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to hoathienly19 For This Useful Post:
hoanglan22 (12-27-2020)
 
Page generated in 0.13809 seconds with 10 queries