News Library Technology Giải Trí Portals Tin Sốt Home

Go Back   VietBF > Other News|Tin Khác > Member News | Tin thành viên

Số bài trả lời (Reply's) : 152   -   Số người đă xem (Viewers) : 16038
 
Thread Tools
Old 02-07-2019   #41
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Tiếng Anh của bà nội trợ

Nhiều bà nội trợ có cách học tiếng Anh độc đáo: nh́n vào vật ǵ th́ liên tưởng đến chữ có cách phát âm tương tự. Nh́n vào cái mâm th́ nói "Mâm đây": thứ hai (Monday)...

Dưới đây là một ví dụ về cách họ học đọc các ngày trong tuần:

Nh́n vào cái mâm th́ nói "Mâm đây": thứ hai (Monday).

Nh́n vào hũ tiêu và nói "Tiêu đây": thứ ba (Tuesday).

Nh́n vào cái chổi và nói "Quét đây": thứ tư (Wednesday).

Nh́n vào cái thớt nói " Thớt đây": thứ năm (Thursday).

Nh́n vào con dao, nói "Phay đây": thứ sáu (Friday).

Nh́n vào hũ rượu rắn của chồng và nói "Xà tửu đây": thứ bảy (Saturday).

C̣n Chủ nhật th́ tất cả đều đồng thanh: "sướng đây" (Sunday)

ST
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019), nangsom (02-12-2019)
Old 02-07-2019   #42
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Để Tang Cho Sách

....Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn c̣n đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đă bị bức tử một cách oan nghiệt.




Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đă tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện.

Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đă thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đă thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và v́ vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nh́n mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, th́ ông tôi tuy đă già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quư là ông t́m tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một ṃn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thơa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đă phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà c̣n ốm một trận thừa sống thiếu chết.




Cuốn sách cũ đến nỗi như đă ngàn năm tuổi. C̣n hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều th́ giờ để nài nĩ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của ḿnh cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dơi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm b́a. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quư hiếm. C̣n sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn c̣n trinh trắng khi hăy c̣n những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải v́ thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, c̣n lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đă tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biêt tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác ǵ sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn ḿnh”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà c̣n sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ư nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của ḿnh được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông th́ hết một nửa là ở trong cái gian pḥng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu ǵn giữ theo cách gần như tôn thờ, th́ đọc chẳng ích lợi ǵ mà c̣n “giết” sách. Theo ông, đọc v́ ṭ ṃ, đọc như “luà cơm”, đọc như ngốn ngấu th́ cả đầu óc ḿnh chỉ là một băi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ư ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong b́ ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền ĺ x́. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái b́a, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông c̣n có đủ tiền th́ cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.



Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn c̣n đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đă bị bức tử một cách oan nghiệt.

Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” th́ hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử h́nh.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để t́m cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với ḷng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.

Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông b́nh tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói ǵ với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đă chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự ḿnh đốt sách.

Một quyết định cháy ḷng.

Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của ḿnh, bạn phải biết là ông tôi đă đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa ŕ rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các vơ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.

Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đă bắn vọt lên đầu ngọn tháp.

Đă nghe mùi mực và mùi giấy.

Đă nghe tiếng vặn ḿnh của các b́a sách.

Đă nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.

Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.

Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.

Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.

Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là v́ khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc v́ lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.

Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết v́ ông c̣n phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt măi tới tận sáng.

Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc ǵ khác ngoài việc ǵn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lảng đảng bay về.

Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đă chết tập thể.

Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.

Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời ŕ rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu th́ bây giờ ông ray rứt v́ ḿnh có tội bấy nhiêu.

Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu b́a, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi t́m được sách quư, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho ḿnh khi th́ một b́nh trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm th́ cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đă để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đă ngă thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu ǵ, tôi nói đại, chưa ông à. Ngă màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đă có ư để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đă chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đă chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đă cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quư tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra th́ ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đă để tang cho sách đúng một trăm ngày.



Khuất Đẩu
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1.png
Views:	0
Size:	226.6 KB
ID:	1337394   Click image for larger version

Name:	2.jpg
Views:	0
Size:	58.8 KB
ID:	1337395   Click image for larger version

Name:	3.jpg
Views:	0
Size:	84.5 KB
ID:	1337396  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019), tcdinh (02-14-2019)
Old 02-08-2019   #43
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Ngày Xuân nghe lính kể "Chuyện Ma"

Vào Đông. Tiết trời lành lạnh. Tôi kéo cao cổ áo “trận” để tránh giá buốt của đêm trừ tịch kéo về. Ngoài khung cửa sổ, gió hiu hiu, đong đưa những cành lá rũ chết. Bầu trời không trăng sao! Tôi. Một ḿnh. Ngồi nhớ nhà!

Giờ này sắp giao thừa rồi đó! Tôi định lấy giấy, viết, khai bút đầu xuân. Tôi cũng không biết ḿnh sẽ viết những ǵ trong đêm giao thừa. Ư nghĩ chờn vờn. Muốn viết nhiều mà chữ nghĩa dường như trốn mất. Giờ này có lẽ Mẹ tôi sắp sửa “ĺ x́” cho các cháu Nội, Ngoại của Mẹ, đang tề tựu dưới mái ấm gia đ́nh. Chúng đang xếp hàng thành nửa ṿng tṛn h́nh bán nguyệt, trước bàn thờ tổ tiên, để chờ Mẹ tôi cho mỗi đứa một phong b́ đỏ, có tiền ĺ x́ c̣n thơm mùi giấy. Nghĩ thế mà ḷng tôi se lại!

Tôi nh́n quanh pḥng. Ngoài chiếc giường lẻ loi kê sát vách, cạnh cái bàn nhỏ, tựa cửa sổ; không c̣n một thứ ǵ khác hơn.

Đây là một pḥng ngủ “Văng Lai” của Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu B́nh Thuận; đơn vị mới mà tôi vừa đảm nhậm. Vị sĩ quan tiền nhiệm của đơn vị này, mặc dù đă nhận bàn giao công tác của tôi tại Khánh Ḥa, hơn một tuần trước; nhưng măi cho đến nay, vẫn chưa bàn giao lại “cư xá sĩ quan” mà tôi được sử dụng, trong suốt thời gian phục vụ tại đơn vị này.

Tôi đảm nhậm đơn vị mới và nhận bàn giao chỉ trước giao thừa có mấy đêm. V́ vị sĩ quan tiền nhiệm chưa bàn giao cư xá, nên tôi được Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận, cho phép tôi được xử dụng một pḥng của Văng Lai Sĩ quan, cho đến khi tôi được nhận cư xá sĩ quan cấp riêng cho tôi.

Tôi c̣n nhớ, khi tŕnh bày với Thiếu tá Phạm Minh, Chỉ Huy Trưởng để xin xử dụng tạm thời pḥng văng lai, Thiếu tá Minh, có vẻ lưỡng lự, không bằng ḷng. Ông nhíu mày dường như đang suy nghĩ để lấy quyết định.

Một chập lâu sau, ông nói với tôi:

-Thật ra cũng bất tiện cho anh. T́nh h́nh an ninh không được khả quan. Anh là sĩ quan cấp tá, càng không nên cư ngụ bên ngoài doanh trại. Trong t́nh trạng này, tôi cũng đành để anh sử dụng văng lai mà thôi.

Tôi đáp: Dạ cám ơn Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng.

Ông ta có vẻ ngần ngại, hỏi lại tôi:

- Nhưng anh có sợ ma không?

- Làm ǵ có ma mà ḿnh sợ!

Ông thong thả, nói gằn từng tiếng một:

- Nhưng tôi báo trước với anh nhé! Căn pḥng mà anh sẽ sử dụng đă bỏ từ lâu, không ai dám ở. Ai đă vào đó, chỉ được vài giờ đồng hồ là chạy ngay ra thôi.

Thiếu tá Minh ngừng trong giây lát, rồi chậm răi nói:

- Tùy ư anh đó! Sau này nếu có thấy ma, cũng xin đừng nghĩ là tôi chơi thâm nhé!

Tôi quả quyết:

- Xin Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng đừng ngại. Tôi chẳng biết sợ ma! Hơn thế nữa ḿnh không chọc ma th́ ma cũng chẳng chọc ḿnh bao giờ!

Trao đổi xong, tôi bảo Hạ sĩ Cảnh tài xế mang hộ tôi va ly và những thứ linh tinh khác vào pḥng số 4 của Văng Lai. Tôi thấy Hạ sĩ Cảnh dường như hốt hoảng. Nh́n nét mặt, tôi thấy anh hơi ái ngại. Anh tŕnh bày:

- Thiếu tá bảo anh Liêm khiêng các thứ này với em.

Tôi chưa hiểu được ư của anh, nên không do dự, tôi nói ngay:

- Chỉ có 1 cái va ly, anh khiêng một cái, c̣n những cái kia để lại cho tôi coi, sau đó, anh ra lấy các thứ lặt vặt đem vào pḥng rồi khóa cửa lại, trao ch́a khóa cho tôi tại Khối Tài Chánh.

Mặt Hạ sĩ Cảnh tái xanh:

- Dạ... dạ thưa... dạ thưa Thiếu tá... thương em... cái mà em không dám vào pḥng đó một ḿnh em đâu... cái mà Thiếu tá nói với anh Liêm đi cùng với em. Đi một ḿnh em sợ lắm!

Tôi gắt: -Lính mà sợ ma. Chứ anh không biết ma nó sợ súng lắm hay sao?

- Dạ! dạ thưa Thiếu tá, nếu Thiếu tá không tin em, phạt em... đánh em, bắn em... em cũng chịu, chứ có ông sĩ quan nào của Khối Tài Chánh mà... dám ở pḥng đó một đêm thôi, em đưa đầu cho Thiếu tá bắn!

Tôi nh́n nét mặt xanh lét, nghe giọng nói ngập ngừng, dáng dấp run sợ, tôi biết anh ta đang hoảng hốt thật. Nhưng với tư cách là sĩ quan chỉ huy, tôi b́nh tĩnh hỏi lại anh:

- Tôi hỏi thật, anh đă thấy con ma trong pḥng 4 văng lai lần nào chưa, mà anh sợ khiếp như vậy?

- Dạ Thưa Ông Thầy, em chưa thấy, chỉ nghe kể, em đă sợ chết cha em rồi. Chứ em mà thấy, chắc tim em ngừng đập ngay, đâu c̣n sống đến bây giờ.

Tôi lấy một điếu Pall Mall đầu lọc mời anh. Tôi rút thêm một điếu nữa, chăm lửa hút:

Tôi vỗ về anh: - Hút đi! B́nh tĩnh. Nào nói cho tôi nghe! Con ma như thế nào, nó ra sao?

Hạ sĩ Cảnh hít một hơi thật dài, nhả khói thuốc làm nhiều lần. Anh nh́n quanh như sợ hồn ma đứng đâu đó. Tôi thấy anh đang tựa lưng vào thành xe Jeep, mắt lơ láo nh́n quanh. Anh không trả lời trực tiếp câu tôi hỏi mà nói quanh co:

- Thiếu tá mà ở pḥng văng lai đó, sáng sáng... anh Liêm cũng không dám đem cà-phê vào pḥng đó cho Thiếu tá đâu! Không tin em... Ông Thầy kêu anh Liêm hỏi thử th́ biết... ngay mà!

Tôi bảo Hạ sĩ Cảnh:

- Được! Gọi Hạ sĩ Liêm cho tôi.

Hạ sĩ Cảnh mừng rỡ như thoát được gánh nợ, vôi vàng chạy về Khối Tài Chánh.

Không bao lâu, tôi thấy Hạ sĩ Liêm hốt ha hốt hoảng cùng chạy ra với Hạ sĩ Cảnh:

- Dạ! Thiếu tá gọi em?

Tôi hỏi thăm ḍ ngay:

- Tôi ở tạm tại pḥng văng lai số 4. Sáng sáng anh chịu khó mang cà-phê vào đó cho tôi được không?

- Dạ! Thưa Ông Thầy! Ông Thầy bảo ǵ th́ em cũng chết với ông thầy. Bảo em lên rừng bắn cọp, xuống biển bắt cá, em cũng đi ngay, mang về cho ông thầy... nhưng...

Tôi nói lớn tiếng: - Nhưng sao?

- Ông thầy bắn em th́ bắn, đưa em ra đơn vị tác chiến th́ em cũng đành ḷng... nhưng... nhưng biểu em bưng cà-phê đến đó cho ông thầy th́ em chịu chết thôi!

Tôi gật gù: -Thôi được! Hai anh khiêng hộ giùm tôi ba thứ linh tinh, lỉnh kỉnh này, rồi về Khối làm việc. Chưa thấy ma th́ đă sợ! C̣n đ̣i lên rừng bắt cọp! Làm ǵ có ma quỷ trên trần gian này! Suốt đời tôi chưa bao giờ gặp ma! Mà có gặp cũng chẳng sao!

Nói xong tôi xách cặp đi thẳng vào pḥng văng lai. Hạ sĩ Cảnh và Hạ sĩ Liêm rón rén bước theo.

Đêm hôm đó, tôi thao thức hoài không thể nào ngủ được.

Bên ngoài cửa sổ, bóng đen vẫn lạnh lẽo, bao trùm cảnh vật trong màn sương dày đặc của đêm trừ tịch. Không một tiếng pháo giao thừa! Đâu đây chỉ có tiếng súng bắn vu vơ của một tiền đồn nào đó, mà thanh âm rời rạc... lạc lơng, chơ vơ!

Bỗng chốc mây đen kéo đến. Gió giật từng cơn. Mưa tuôn xối xả, như nước từ trên trời trút xuống. Tôi nằm xoay mặt vào tường. Ngấu nghiến từng trang cuốn tiểu thuyết, đến đoạn hấp dẫn, Chú Đạt và cháu Diễm đang chuyện tṛ, gợi t́nh nhau... Bất chợt tôi nghe một tiếng soạt, dường như có ai đang mở chốt cửa vào pḥng tôi. B́nh tĩnh, xoay người lại, nhưng tôi vẫn giữ nguyên ở vị thế nằm.

Tôi đưa tay ṃ khẩu Colt 45, vẫn c̣n y nguyên dưới gối.

Căn pḥng lặng thinh như tờ. Tôi nh́n về hướng cửa ra vào. Cửa vẫn c̣n khép kín. Tôi nh́n đồng hồ, 3 giờ 48 phút khuya của đêm trừ tịch. Không thấy động tịnh ǵ, tôi xoay người vào vách tường đọc tiếp cuốn tiểu thuyết...

Khoảng vài phút sau, tôi lại nghe một tiếng soạt, như tiếng ổ khóa đang có người mở cửa. Phản ứng tự nhiên, tôi xoay người, bật dậy. Trong khoảnh khắc bối rối, tôi nh́n về phía cửa. Phút chốc, cánh cửa từ từ hé mở, như có ai đó muốn vào nhưng vẫn c̣n e dè chưa dám bước vào. Khoảng vài giây sau, một thiếu nữ đứng chần chờ trước cửa, nàng chăm chú nh́n về hướng giường tôi đang nằm.

Qua cái mùng thưa. đă bỏ xuống để ngăn muỗi, tôi thấy một thiếu nữ trẻ, đầu đội chiếc nón lá, trên tay xách một cái bóp trắng, làm nổi bật chiếc áo dài nhung màu tím, màu áo của thời trang, mà vào dạo ấy nhiều phụ nữ thích mặc.

Thiếu nữ vừa xuất hiện, rón rén bước đến nơi tôi đang nằm. Nàng nh́n rất chăm chú vào mùng. Ánh mắt ngạc nhiên, khi biết có người đang nằm trong mùng.

Sau một hồi ngập ngừng, nàng lấy chiếc nón đặt úp ngay trên đầu mùng. Tôi choáng mắt trước sắc đẹp của nàng. Sau đó, nàng vén mùng, ngồi xuống cạnh giường. Hai chân vẫn c̣n để ở ngoài mùng.

Vẫn chưa định thần, tôi ngỡ ḿnh đang trong cơn choáng váng, nên vẫn nằm im không có một cử động nhỏ nào. Tôi tưởng tôi đă đi lạc vào đám mây mù của ảo giác hoặc đang rơi vào hoang tưởng...

Thiếu nữ đưa tay choàng qua ḿnh tôi. Mặt nàng nh́n thẳng vào mắt tôi dường như muốn nói điều ǵ nhưng lại thôi. Phản ứng tự nhiên, tôi đưa tay gạt ngang lưng nàng. Cảm giác rờn rợn, tôi cảm nhận tay tôi đă chạm vào một miếng vải nhung êm ả. Phút chốc h́nh hài thiếu nữ tan biến, trong ánh sáng mờ ảo.

B́nh tĩnh, tôi nh́n lên đầu mùng, chiếc nón mà thiếu nữ đă đặt trước khi ngồi trên giường tôi đang nằm đă biến mất. Tôi xem lại mé mùng, chỗ của thiếu nữ đă ngồi khi năy, có một khoảng mùng bị kéo ra khỏi cái nệm, mà lúc vào trong giường, tôi đă nhét mùng dưới nệm để bầy muỗi khỏi bay vào.

Tôi vẫn biết ḿnh chưa ngủ. Tôi khép cuốn sách lại, trước khi xếp một góc trang mà tôi vừa đọc để đánh dấu ḿnh đă đọc đến trang nào...

Cảnh tượng chỉ xảy ra trong thoáng chốc chưa đủ làm cho tôi sợ hăi. Tôi vẫn chưa tin thiếu nữ đó là ma.

Hoang mang, tôi ngồi dậy, bước ra khỏi mùng. Đến cái bàn nhỏ, có cái điện thoại dă chiến EE8, tôi quay vài ṿng để gọi pḥng trực. Im lặng không có tiếng bên kia đầu giây trả lời. Quay thêm một ṿng nữa, vẫn lặng lẽ, không có một thanh âm nhỏ nhoi nào báo động cho biết điện thoại c̣n hoạt động. Tôi mở 2 cục pin A30 để kiểm soát lại. Pin vẫn đặt đúng vị trí. Hơi bối rối, tôi mang vội đôi giày trận, tay cầm khẩu Colt 45. Tôi đi vội ra pḥng trực. Dọc hành lang của nhà văng lai, ánh sáng leo lét của các bóng đèn 25 watt, không cho đủ ánh sáng. Tôi cảm thấy có cái ǵ lành lạnh ở sau gáy. Đến pḥng sĩ quan trực, anh em có phận sự trực vẫn c̣n tề chỉnh trong trang phục tác chiến. Thiếu úy sĩ quan trực thấy tôi, bèn đứng dậy, nghiêm chỉnh chào. Vị sĩ quan trực đứng trước mặt tôi, với giọng nói và nét mặt linh hoạt. Anh ta có dáng điệu của một thanh niên c̣n trẻ, khoẻ mạnh. Gương mặt phản chiếu những nét linh động, hoạt bát...

Tôi hỏi: Hồi năy tôi có gọi ra pḥng trực, Thiếu úy có nghe điện thoại reo không?

- Dạ! Thưa không!

Anh ta vẫn c̣n đứng nghiêm sau bàn trực và lễ phép hỏi tôi:

- Thiếu tá cần ǵ?

- Không! Tôi không cần ǵ! Tôi chỉ muốn thử lại điện thoại thôi!

Hồi năy tôi có gọi thử ra pḥng trực nhưng không ai trả lời. Tôi đă kiểm soát lại pin, nhưng điện thoại vẫn không hoạt động được.

Thiếu úy sĩ quan trực, thong thả nói:

- Tôi nghĩ là pin đă hết hạn xử dụng.

Tôi quả quyết: -Không! Trung sĩ Giang, hạ sĩ quan tiếp liệu, sáng nay có trao cho tôi 2 cục pin A30 c̣n nguyên xi mà.

- Tôi sẽ cùng đi với Thiếu tá, để kiểm soát lại đường giây điện thoại nối vào pḥng số 4.

Vừa nói xong, Thiếu úy sĩ quan trực rời bàn trực, định đi theo tôi.

Nh́n quanh, tôi không biết ai là hạ sĩ quan trực. Tôi hỏi:

- Hạ sĩ quan trực đâu?

Trong một góc pḥng, năm sáu quân nhân đang bao quanh bàn cờ tướng, Một thượng sĩ chạy đến bàn sĩ quan trực, nói:

- Dạ. Tôi trực đêm nay.

Tôi dặn:

- Tôi về pḥng văng lai, thỉnh thoảng anh gọi vào pḥng số 4, để tôi thử điện thoại nhé!

- Dạ!

Tôi cùng đi với Thiếu úy sĩ quan trực trở lại pḥng văng lai.

Một điều làm tôi ngạc nhiên vô cùng. Mùng bị tháo gỡ ra khỏi giường gỗ, và được xếp gọn gàng, đặt ngay trên đầu giường. Mọi vật dụng dường như có ai đó làm xê dịch đi đôi chút. Trong lúc đó, viên sĩ quan trực không lấy ǵ làm ngạc nhiên. Anh ta kiểm soát lại đường giây điện thoại dă chiến mắc vào pḥng. Một chặp lâu sau, anh nói với tôi:

- Thưa Thiếu tá, có một đầu giây điện thoại bị hở, tôi đă gắn lại rồi. Tôi sẽ gọi ra pḥng trực, để xem c̣n trục trặc nữa không. Vừa nói anh ta vừa quay mấy ṿng trên cái điện thoại EE8.

- A-lô! Pḥng trực có nghe tôi không?

Bên kia đầu giây có tiếng trả lời. Tôi nghe sĩ quan trực nói:

- Không có ǵ, tôi đang thử đường giây điện thoại. Cám ơn!

Anh ấy đặt điện thoại xuống và nói với tôi:

- Có lẽ hôm nay gió mạnh, nên cành cây ngoài cửa sổ lay động, làm hở mạch điện thoại.

Nói xong, anh ta chào tôi về lại pḥng trực. C̣n lại một ḿnh, tôi loay hoay mắc mùng và đi ngủ lại. Đến một nơi xa lạ, nên khó ngủ. Tôi tiếp tục đọc sách, chờ đợi và nghe ngóng chính hơi thở và con tim của ḿnh đang đập th́nh thịch.

Bỗng nhiên, từ trên trần nhà, ngay chỗ cái bóng đèn tṛn, một người con gái mặt mày máu me, trên đầu có những lọn tóc rối, trắng phau, thả xuống gần đôi chân. Đầu đang bị treo vào một sợi dây tḥng lọng. Hai tay và hai chân đong đưa như đang bị nghẹt thở. Mắt trợn tṛng, liêng liếc. Một tay vẫy gọi tôi như cầu cứu.

Tôi toát mồ hôi hột, vội chụp súng và chạy ngay ra pḥng trực. Tôi kể chuyện cho Thiếu úy sĩ quan trực nghe. Anh ta cũng ngạc nhiên vô cùng.

Tôi hỏi:

- Thiếu úy ở đơn vị này lâu rồi, Thiếu úy có nghe ai kể chuyện pḥng đó có ma không?

- Dạ thưa Thiếu tá, tôi cũng có nghe nhiều người nói là pḥng số 4 có ma, nhưng chưa nghe ai nói có người tự tử treo cổ lửng lơ trên trần nhà.

Tôi nh́n đồng hồ treo trên tường của pḥng trực th́ đă 4 giờ sáng rồi.

Tôi hỏi vị sĩ quan trực:

- Mấy giờ Câu lạc bộ mở cửa?

- Dạ, 4 giờ rưỡi.

Tôi hơi ngạc nhiên:

- Sao mở cửa sớm vậy?

Anh ta thong thả trả lời:

- Cả tháng nay, Tiểu Khu ra lệnh cấm trại 100-phần-100, nên anh em đều ngủ lại trong trại. Câu lạc bộ mở cửa sớm để anh em uống cà-phê, dùng điểm tâm v́ 6 giờ đă điểm danh rồi.

- Mấy giờ anh bàn giao phiên trực?

- Dạ, tôi chỉ chờ Khối Điều Hành Tổng Quát đến để kư Sổ Bàn Giao.

Anh ta giải thích thêm:

- Ở đây, Ban Trực chỉ chịu trách nhiệm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. C̣n trong giờ làm việc th́ Khối Điều Hành Tổng Quát chịu trách nhiệm.

Tôi nói:

- Tôi mời Thiếu úy xuống Câu lạc bộ uống cà-phê sáng với tôi.

- Dạ được. Tôi sẽ cùng đi với Thiếu tá.

Vừa nói, anh vừa quay điện thoại:

- A-Lô! Khối Điều Hành Tổng Quát đó hả! Cho người nhận bàn giao đi chứ! Trễ của tôi 10 phút rồi đó!

Anh ta đặt ống nghe xuống, tươi cười nói:

- Khối Điều Hành Tổng Quát đang cho người xuống kư Sổ Bàn Giao!

Ngay lúc đó, tôi nhớ ḿnh chưa khóa cửa pḥng Văng Lai. Tôi nói:

- Thiếu úy cùng tôi về pḥng Văng Lai, để tôi khóa cửa rồi ḿnh xuống Câu lạc bộ.

Chúng tôi cùng đi về pḥng Văng Lai. Vừa bước vào, chúng tôi thấy một thiếu nữ mặc áo nhung đen, đang nằm ngửa ra trên sàn nhà với chiếc gối hoen máu. Tôi đưa mắt liếc nh́n. Bỗng dưng tôi nghẹt thở. Tôi kinh hoàng, nh́n không chớp mắt. Vết thương rỉ ra trên cổ nàng và vệt máu vẫn c̣n nhỏ giọt, ươn ướt tuôn ra từ trên cổ nàng. Thiếu nữ cố hít một hơi yếu đuối, nàng từ từ chống khuỷu tay ngóc đầu dậy. Nút áo bị tuột ra, hở ngực. Như có ai đă xé toét ra từ trước. Nàng đưa đôi mắt trắng dă, nh́n chúng tôi như cầu cứu. Chúng tôi c̣n đang ngơ ngác th́ h́nh hài của thiếu nữ đó biến mất.

Lần này tôi thật sự khiếp sợ. Giường ngủ bị lật úp xuống, bốn chân lộn ngược lên trần nhà. Tôi vội đẩy viên sĩ quan trựcc ra khỏi gian pḥng. Anh ta đang đứng lặng người ở trước cửa, há hốc miệng nh́n tôi, mặt mũi xanh như tàu lá chuối. Tôi đóng cửa và vội vă kêu viên sĩ quan trực ra khỏi hành lang. Anh ta hổn hển nói: - Ma!

Chúng tôi lao ḿnh ra khỏi hành lang và nhảy xuống cầu thang tầng hai, ba bậc một. Xuống Câu lạc bộ, chúng tôi kêu cà-phê và cháo gà để điểm tâm.

Vừa liếm từng giọt cà-phê nóng hổi, tôi vừa nh́n quanh. Câu lạc bộ đông người, mà tôi vẫn c̣n kinh hoàng, khủng khiếp nh́n quanh... một vệt máu c̣n đọng lại trên cổ người thiếu nữ đang nằm vất vưởng trên sàn nhà...

Sau đó, tôi được biết, Câu lạc bộ do vợ một thượng sĩ thầu. Tôi nghe nói bà này đă bán Câu lạc bộ này nhiều năm, nên tôi hỏi thăm về chuyện ma tại văng lai, được bà cho biết như sau:

- “Chồng tôi phục vụ tại doanh trại này đă từ lâu. Anh ấy trước đây là lính GI (khố xanh), sau khi Pháp rút quân về nước, doanh trại này được bàn giao cho Tiểu đoàn 82 Việt Nam. Tiểu đoàn Bảo An B́nh Thuận được thành lập do Đại úy Danh làm Tỉnh Đoàn Trưởng, cũng đă đồn trú tại đây. Tỉnh Đoàn Bảo An bị giải tán và sáp nhập vào Tiểu Khu cho nên nơi đây là Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận B́nh Thuận. Nhưng trước năm 1945, doanh trại này là Pḥng Nh́ của Quân Đội Viễn Chinh Pháp.

Hồi đó tôi c̣n bán cái quán nhỏ trước trại lính này. Nghe nói tụi Pháp có bắt về một thiếu nữ trẻ đẹp, bị t́nh nghi là tiếp tế cho Việt Cộng. Ban đêm tụi Pháp điều tra, đánh đập và hăm hiếp thiếu nữ này nhiều lần. Uất ức, cô ta thắt cổ tự tử và sau này con gái của Đại úy Danh, Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Bảo An cũng đă tự tử v́ t́nh duyên trắc trở sao đó, cũng tại pḥng số 4 của Nhà Văng Lai này. Từ đó về sau, không một sĩ quan nào dám trú ngụ tại pḥng số 5 của Văng Lai đó.”

Bà nói thêm:

- “Thiếu tá Minh cho dọn dẹp pḥng đó rất sạch sẽ, để khi nào có Phái Đoàn Thanh Tra nào mà hách x́ xằng, vẽ vời thứ này thứ nọ, th́ ông mời vào pḥng đó để tạm trú. Ai vào ở cũng gặp ma và sáng hôm sau cuốn gói về Sài G̣n ngay mà không c̣n muốn thanh tra, thanh triết ǵ nữa...”

Tôi nghe kể câu chuyện như thế bèn thở dài: -Ừ! Ra là thế.

Nhiều năm về sau, khi chúng tôi gặp lại nhau và hồi tưởng lại chuyện cũ, th́ chuyện hai con ma trong Pḥng số 4 Văng Lai, của Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu B́nh Thuận, lúc nào cũng được kể lại.

Duy Xuyên, Tacoma


Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1.png
Views:	0
Size:	98.8 KB
ID:	1337922  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 02-08-2019   #44
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Tài Liệu SNIE 14.3-67: Bài Học Đắt Giá của Việc Chính-Trị-Hóa Tình Báo

Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (từ cuối tháng 1-1968) của phe Cộng Sản trên toàn lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa, mà báo chí sách vở Hoa Kỳ thường gọi là Tet Offensive, đã được đánh giá như là một thất bại lớn về tình báo của Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Việt Nam. Việc đánh giá như vậy có hoàn toàn đúng hay không ? Bài viết này tìm hiểu những tranh luận chung quanh tài liệu SNIE 14.3-67 của CIA nhằm cố gắng trả lời câu hỏi đó.

SNIE 14.3-67 là tài liệu gì ?

SNIE, chữ viết tắt của Special National Intelligence Estimate, tạm dịch là Bản Ước Lượng Tình Báo Quốc Gia Đặc Biệt, là một dạng đặc biệt của NIE (National Intelligence Estimate), tài liệu về tình báo của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency, thường được viết tắt là CIA) đã được xét duyệt và thông qua bởi United States Intelligence Board (USIB = Hội Đồng Tình Báo Hoa Kỳ) và sau đó sẽ được ấn hành bởi một bộ phận của CIA là Office of National Estimates (ONE).

Mỗi NIE được tạo ra nhằm cung cấp cho các cấp lãnh đạo của Hoa Kỳ những thông tin căn bản cần thiết về tình hình về mọi mặt của từng quốc gia trên thế giới. Các NIE luôn luôn được cập nhật dựa trên tình hình phát triển của các quốc gia đó, và thỉnh thoảng, theo nhu cầu của tình hình, các SNIE sẽ được soạn thảo. Việc soạn thảo các NIE và SNIE là nhiệm vụ của một đơn vị thuộc quyền của Phó Giám Đốc Tình Báo của CIA (Deputy Director for Intelligence, thường được viết tắt là DDI; Ray S. Cline (1962-1966) và Russell Jack Smith (1966-1971) là hai người kế tiếp nhau giữ vị trí DDI trong giai đoạn này của Chiến Tranh Việt Nam).

Như trên đã trình bày, các NIE và SNIE luôn luôn phải được xét duyệt và thông qua bởi USIB gồm các đại diện có thẩm quyền của tất cả các cơ quan an ninh tình báo của Hoa Kỳ mà quan trọng nhứt là các cơ quan sau đây: CIA, DIA (Defense Intelligence Agency, cơ quan tình báo của Bộ Quốc Phòng), các cơ quan tình báo của 3 quân chủng (Hải, Lục và Không Quân), và cơ quan tình báo của Bộ Ngoại Giao (Bureau of Intelligence and Research – State Department, thường được viết tắt là INR).

Tài liệu SNIE 14.3-67 có trang bìa như hình dưới đây:



Nhan đề của tài liệu này cho thấy rõ ràng nội dung của nó là đề cập đến khả năng chiến đấu của các lực lượng Cộng sản tại Miền Nam Việt Nam, và số hiệu 14.3-67 gồm 2 phần: 14.3 là ám số của CIA dùng cho khu vực Đông Dương (Indo-China), và 67 là của năm 1967.

Sam Adams là ai ?

Nói đến câu chuyện của tài liệu SNIE 14.3-67 thì không thể nào không nhắc đến cái tên Sam Adams được. Vậy Sam Adams là ai ?

Người nhân viên CIA đã khuấy động chuyện này có tên là Samuel Alexander Adams (1934-1988), thường được biết bằng tên ngắn gọn hơn là Sam Adams, là một nhân viên phân tích tình báo (intelligene analyst) của cơ quan CIA. Ông sinh ngày 14-6-1934 tại thành phố Bridgeport, tiểu bang Connecticut, thuộc dòng dõi họ Adams nổi tiếng của tiểu bang Massachusetts, đã từng sản sinh ra 2 vị Tổng Thống của Hoa Kỳ, đó là hai cha con: cha là John Adams (1735-1826), Tổng Thống thứ nhì (1797-1801) và con là John Quincy Adams (1767-1848), Tổng Thống thứ sáu (1825-1829).[1] Sau khi tốt nghiệp Đại Học Harvard (Harvard College) về ngành Sử Âu Châu vào năm 1955, ông phục vụ hai năm trong lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ. Sau khi giải ngũ, ông theo học Luật tại Đại Học Harvard (Harvard Law School), và sau đó làm việc cho một số ngân hàng trong một thời gian. Năm 1963 ông được Cơ quan CIA tuyển chọn làm nhân viên phân tích tình báo và đơn vị đầu tiên ông phục vụ là tổ Congo, thuộc Khối Phi Châu (Congo desk of Africa Division). Nhờ cách làm việc siêng năng, cần mẫn, có phương pháp và với óc nhận xét và phân tích rất sắc bén, chỉ một thời gian ngắn, ông đã được các đồng nghiệp kính nể và các cấp chỉ huy CIA đánh giá cao. Tháng 8 năm 1965, ông chuyển sang tổ Việt Nam, thuộc phân bộ Đông Nam Á, Khối Viễn Đông (Vietnam desk, Southeast Asia Branch, Far East Division).


Hình Sam Adams chụp khoảng năm 1984 -- Nguồn: Internet

Vào thời gian này, sau khi quân bộ chiến của Hoa Kỳ ồ ạt đổ vào Việt Nam, cán binh Cộng sản bị giao động tinh thần rất nặng nề: tỷ lệ hồi chánh và đào ngũ tăng lên rất nhiều. Adams được phân bộ trưởng Ed Hauck giao cho nhiệm vụ tìm hiểu về vấn đề tinh thần của cán binh Việt Cộng (Viet Cong morale).

Adams bắt tay ngay vào việc và đã bỏ ra rất nhiều thời gian cũng như công sức để thực hiện các hồ sơ cần thiết cho công việc được giao phó. Trong bước đầu, ông tạo ra 3 bộ hồ sơ căn bản mà ông đặt tên cho là: 1) Primary Evidence (Bằng chứng nhứt đẳng) gồm các văn kiện, báo cáo trực tiếp từ phía VC như là các tài liệu bắt được (captured documents), cung tù hàng binh (POW interrogations; POW = Prisoner Of War), và các cuộc phỏng vấn với các cán binh VC ra hồi chánh (defector interviews); 2) Statistics (Thống kê) gồm các trang trích ra từ các báo cáo gởi từ Sài Gòn về các con số đào binh và tù binh VC cũng như các con số dân tỵ nạn từ các vùng nằm dưới sự kiểm soát của VC; 3) Everything Else (Tất cả các thông tin khác) gồm tất cả các loại tài liệu không thể xếp vào 2 bộ hồ sơ kia. Về sau, bộ hồ sơ thứ ba này quá lớn nhưng không hữu dụng cho công việc của ông nên ông quyết định vứt bỏ đi.

Những con số gây ngạc nhiên

Adams bắt đầu đọc các tài liệu thuộc hồ sơ 1 nhưng không thấy gì đặc biệt. Khi chuyển sang đọc các số liệu thống kê thì ông bắt đầu thấy thích thú và ngạc nhiên. Tài liệu gây ngạc nhiên cho ông là báo cáo về chương trình Chiêu Hồi của tuần lễ đầu tháng 8-1965: báo cáo ghi rõ là tổng số cán binh VC ra hồi chánh trong tuần lễ đó là 211 người. Ông đọc tiếp các báo cáo của các tuần lễ còn lại của tháng 8-1965 và nhận ra rằng con số 211 hồi chánh viên trong một tuần không phải là một trường hợp đặc biệt gì cả mà chỉ là một con số trung bình mà thôi. Ông tính nhẩm: như vậy mỗi năm có trên 10.000 cán binh VC về hồi chánh, một tỷ lệ rất đáng kể là 5% trên tổng số lực lượng VC theo ước tính của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là khoảng dưới 200.000 quân. Thật sự kích động, ông đọc hết tất cả các báo cáo của chương trình Chiêu Hồi, và sau đó khi so sánh giữa con số VC hồi chánh và con số VC tử trận, ông càng kinh ngạc hơn: trong khoảng thời gian từ tháng 8-1964 đến tháng 8-1965 con số VC tử trận chỉ tăng gấp đôi trong khi con số VC hồi chánh tăng gấp 5 lần. Điều này có nghĩa là cường độ chiến tranh càng ác liệt thì số cán binh VC ra hồi chánh sẽ càng tăng lên nhanh chóng hơn.[2] Như vậy, xem ra có vẻ chiến lược “lùng và diệt địch” (Search and Destroy) của Tướng Westmoreland,[3] Tư Lệnh MACV [4] áp dụng cho cuộc chiến tranh hao mòn (war of attrition) này đã có kết quả tốt. Và, nếu tiếp tục với cái đà này, chỉ một thời gian ngắn nữa VC sẽ không còn quân để đánh nhau nữa. Nhưng rồi Adams sớm nhận ra rằng sự thật không phải như vậy. Vì VC vẫn tiếp tục đánh phá khắp nơi, không có một triệu chứng nào báo hiệu cho thấy tinh thần chiến đấu của VC bị ảnh hưởng nặng và sẽ đi đến chổ sụp đổ toàn diện. Adams đang đối diện với 2 khối lượng thông tin hoàn toàn mâu thuẩn nhau: một khối thông tin cho thấy mức độ cán binh VC hồi chánh rất cao và ngày càng gia tăng, còn khối thông tin kia thì cho thấy các kực lượng VC vẫn tiếp tục chiến đấu dữ dội khắp nơi trên lãnh thổ của VNCH. Adams tin rằng như vậy phải có cái gì không đúng đây. Anh quyết định tìm hiểu thêm về các cán binh VC hồi chánh.

Mối nghi ngờ chớm nở

Tháng 1-1966, Adams được biệt phái sang làm việc tại Việt Nam trong 3 tháng. Đây là lần đầu tiên Adams tiếp nhận được kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh Việt Nam nói chung, và về tổ chức nhân sự của VC nói riêng.

Nơi Adams được chỉ định đến công tác là Phân Bộ Thu Xếp (Collation Branch) của CIA tại Sài Gòn. Phân bộ này được đặt dưới quyền chỉ huy của George Allen là người phó của George Carver lúc đó đang đãm nhận chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt về Việt Nam (SAVA = Special Assistant for Vietnam Affairs) của Giám Đốc CIA, Richard Helms. Dưới sự hướng dẫn của Allen, Adams bắt tay vào công tác tìm hiểu về các hồi chánh viên (defectors). Ông được biết là lúc đó trạm CIA tại Sài Gòn không có giữ một danh sách gốc (master list) về các hồi chánh viên. Allen khuyên ông nên tìm gặp Leon Gore, người đứng đầu phân bộ đặc trách về Động Cơ và Tinh Thần của Việt Cộng (VC Motivation and Morale Branch) của Rand Corporation,[5] mà trụ sở đặt tại biệt thư số 176 đường Pasteur ở Sài Gòn, để có thể nắm được thông tin tin đầy đủ về vấn đề này. Tuy nhiên, Allen cũng dặn Adams là không nên sa lầy trong vấn đề này vì, theo Allen, còn một vấn đề còn quan trọng hơn nữa là vấn đề các cán binh VC đào ngũ (deserters). Đây là những cán binh VC, vì nhiều lý do khác nhau, đã rời bỏ hàng ngũ Cộng sản nhưng không ra hồi chánh, và cũng không thể trở về quê quán vì sợ bị VC thanh toán, họ trốn về và sinh sống bất hợp pháp trong các thành phố. Khi đến gặp và làm việc với Gore, Adams càng kinh ngạc hơn khi được Gore cho biết con số đào ngũ còn cao hơn con số hồi chánh: tỷ lệ là gấp 7 lần.[6] Như vậy, mỗi năm lực lượng VC mất đi, không phải 10.000 quân hay 5% (do hồi chánh), mà đến 80.000 quân hay 40% (10.000 hồi chánh + 70.000 đào ngũ). Đó là chưa kể đến số thương vong. Và cho một đạo quân chưa đến 200.000 người theo ước tính của MACV. Vậy mà cường độ chiến tranh không hề suy giảm chút nào cả, ngược lại ngày càng ác liệt, với số thương vong của quân đội Mỹ không ngừng gia tăng.[7] Như vậy rõ ràng là lực lượng VC phải cao hơn con số 200.000 quân rất nhiều.

Mối nghi ngờ gia tăng

Ngày 2-2-1966, từ Sài Gòn Adams đáp chuyến bay trực thăng của Air America [8] xuống Tân An làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi của tỉnh Long An. Tại đây, Adams đã tiếp cận với toàn bộ hồ sơ của 146 cán binh VC đã ra hồi chánh trong thời gian 4 tháng trước đó. Trong suốt thời gian 2 tuần lễ, với sự giúp đở rất tích cực của một nữ thông dịch viên, Adams đã ghi chép thật cẩn thận về tất cả 146 hồi chánh viên đó với những thông tin cá nhân của từng người cần thiết cho công tác của ông như là: tên họ, tuổi tác, thành phần (quân sự, chính trị, chính quy, địa phương, liên lạc viên, du kích, dân quân tự vệ, vv.), thời gian phục vụ trong hàng ngũ CS. Ông nhận ra trong số 146 hồi chánh viên này có khoàng gần 90 người thuộc thành phần quân sự, và trong số nầy chỉ có 6 người thuộc các đơn vị chính quy hay địa phương, phần còn lại khoảng 80 người là thuộc diện du kích – dân quân (guerilla-militia). Kiểm tra lại với con số du kích – dân quân liệt kê cho tỉnh Long An trong bảng trận liệt (Order of Battle, hay OB) của MACV, ông giựt mình vì bảng OB của MACV ghi rõ là tỉnh Long An chỉ có tổng cộng 160 du kích – dân quân. Ông tính nhẩm: vậy thì lực lượng du kích – dân quân của VC trong tỉnh Long An đã bị tổn thất đến 50% nghĩa là rất nặng. Nhưng rõ ràng tình hình hoạt động của VC tại Long An vẫn không bị ảnh hưởng. Ngay trong thời gian đó, vào ngày 11-2-1066, đã xảy ra một trận đánh lớn tại quận Tân Trụ, cách tỉnh lỵ Tân An khoảng 10 km về phía Nam, trong cuộc Hành Quân An Dân 14/66, giữa các đơn vị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh của QLVNCH và Tiều đoàn 506 địa phương của VC. Tiểu Đoàn 506 của VC đã bị tổn thất thật nặng với trên 100 binh sĩ tử trận, bỏ xác tại chổ mà QLVNCH đã đếm được.[9] Mấy hôm sau, Adams được gặp và đã nêu thắc mắc về con số du kích – dân quân của VC với Đại Tá Phạm Anh, Tỉnh Trưởng Long An. Đại Tá Anh cho biết ngay là con số 160 trong OB của MACV là sai, con số du kích – dân quân tại Long An đúng phải là 2000, và ông cũng yêu cầu Adams sau này về Sài Gòn, nếu có cơ hội, nên báo cho MACV điều chỉnh lại con số này trong OB của họ. Adams hứa sẽ làm chuyện này. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Adams có dịp đến làm việc tại Quận Tân Trụ, và được biết Tiểu đoàn địa phương 506 của VC, vừa bị thiệt hại nặng trong cuộc Hành quân An Dân 14/66 vừa nói trên, đã bổ sung xong quân số và hoạt động trở lại như trước.[10] Như vậy rõ ràng là con số 2000 du kích – dân quân (nguồn bổ sung cho các đơn vị quân sự địa phương của VC) của ông đại tá tỉnh trưởng Long An hoàn toàn có thể tin được. Đây là lần đầu tiên Adams được biết một cách gần như chắc chắn là con số du kích – dân quân trong OB của MCV là quá thấp. Ngày hôm sau, trở về Sài Gòn, Adams báo cáo ngay cho George Allen về chuyện này. Allen không ngạc nhiên chút nào cả, và còn cho Adams biết rằng từ nhiều năm qua MACV đã bỏ qua, không để tâm đến vấn đề du kích – dân quân của VC. Nhớ lại lời hứa với đại tá tỉnh trưởng Long An, Adams đã gọi cho Ban Phụ Trách Trận Liệt (Order of Battle Branch) của MACV để cho họ biết về con số chính xác của du kích – dân quân tại Long An. Người nhân viên trực ban ghi nhận và cho biết sẽ báo cáo lại cho Đại Tá Gaines Hawkins, Trưởng Ban OB của MACV. Sau vụ Long An, mối nghi ngờ của Adams về các con số liên quan đến lực lượng du kích – dân quân trong OB của MACV càng gia tăng thêm, và ông quyết định tìm đọc các tài liệu tịch thu được của VC để xem thông tin và nhận định của chính đối phương về vấn đề ra sao. Ông càng bàng hoàng hơn khi thấy ngay chính trong các tài liệu bắt được của địch tỷ lệ giữa con số hồi chánh và con số đào ngũ của cán binh VC còn cao hơn cái tỷ lệ 1/7 mà Gore đã nói với ông rất nhiều: [11]

• Một tài liệu có tựa đề là “Các biện pháp đối phó với các thành phần hồi chánh, đào ngũ và phản bội” (Countermeasures against defectors, deserters, and traitors) cho biết số hồi chánh “hiếm” hơn số đào ngũ)

•Một tài liệu khác, lần đầu tiên cho biết cái tỷ lệ giữa đào ngũ và hồi chánh: 138 đào ngũ trong đó chỉ có 5 ra hồi chánh, tỷ lệ là 5/138 = 27 lần

•Một tài liệu khác cho biết: trong vòng 1 tháng, một đơn vị có 47 người đào ngũ, trong đó chỉ có 2 ra hồi chánh: tỷ lệ là 2/47 = 23 lần

•Một tài liệu nữa, cụ thể hơn rất nhiều: Đại đội vũ khí của Tiều đoàn 269, thuộc Trung đoàn 2 Đồng Tháp, trong 3 tháng cuối năm 1965, đã có đến 20 người đào ngũ; tính theo cấp số của đại đội vũ khí là 87 người, tỷ lệ đào ngũ của đơn vị này là 20/87 = 22.9% nghĩa là rất cao

Thời gian còn lại tại Việt Nam, Adams đến làm việc tại Trung Tâm Khai Thác Tài Liệu Hỗn Hợp của MACV (Combined Document Exploitation Center – CDEC [12]) tại Sài Gòn. Tại đây, Adams đọc tất cả các tài liệu bắt được của địch, đặc biệt là các danh sách của các đơn vị địch (enemy rosters), và nhận rõ là tất cả các tài liệu này đều cho thấy một mức độ đào ngũ trầm trọng trong hàng ngũ cán binh VC. Adams đã sao chụp và mang vể Mỹ một số lớn tài liệu loại này. Ông trở về Tổng Hành Dinh của CIA ở Langley, Virginia vào ngày 2-5-1966, và bản báo cáo của ông về vấn đề đào ngũ của cán binh VC rất được chú ý và đánh giá cao. Do đó, Adams đã được gọi lên thuyết trình cho Đô Đốc William F. Raborn, người vừa được bổ nhiệm thay cho John A. McCone trong chức vụ Giám Đốc CIA. Sau vụ thuyết trình này của Adams, Giám Đốc Raborn quyết định cử 1 đoàn chuyên viên về phân tâm (psychiatrists) của CIA sang Việt Nam (cùng với Adams với tư cách cố cấn cho đoàn) để nghiên cứu tại chổ vê tinh thần của cán binh VC. Sau một tháng rưởi làm việc tại Việt Nam, đoàn chuyên viên trở về Mỹ và báo cáo của họ khẳng định là, mặc dù với tỷ lệ đào ngũ cao như thế, tinh thần chiến đấu của cán binh VC vẫn rất tốt.

Sau khi trở lại Mỹ, dùng nhiều cách tính khác nhau, Adams ước tính con số cán binh VC đào ngũ trong một năm rất cao, không bao giờ dưới 50.000, có khi lên đến trên 100.000. Trong khi đó, tổng số cán binh VC tử trận, bị thương và bị bắt làm tù binh là vào khoảng 150.000 mỗi năm. Như vậy, nếu căn cứ vào con số ước tính toàn bộ lực lượng của VC trong OB của MACV là 280.000 (vào tháng 6-1966) thì lực lượng này sẽ bị triệt tiêu trong một thời gian ngắn sắp tời. Nhưng rõ ràng, qua kinh nghiệm bản thân của Adams trong thời gian 3 tháng công tác tại Việt Nam, cũng như qua kết quả điều tra của đoàn chuyên viên về phân tâm học của CIA, tinh thần chiến đấu của cán binh VC không hề giảm sút và cường độ chiến tranh vẫn ngày càng ác liệt, không có một dấu hiệu gì cho thấy cuộc chiến sắp đi đến kết thúc cả. Adams nhớ kinh nghiệm thu nhận được trong thời gian công tác tại Long An: 1) Sự sai biệt quá lớn giữa 2 con số về du kích – dân quân do đại tá tỉng trưởng Long An cung cấp và con số trong OB của MACV; và 2) Vụ Tiểu đoàn địa phương 506 của VC tại Long An, đã bổ sung quân số thật nhanh và hoạt động trở lại ngay, sau khi bị thiệt hại nặng trong cuộc hành quân An Dân 14/66 tại Tân Trụ trong tháng 2-1966.

Lúc bấy giờ, CIA vừa trải qua một cuộc cải tổ, và xếp mới của Adams là Dean Moor. Adams lập tức báo cáo ngay cho Moor các phát hiện của mình về Long An và xin phép được nghiên cứu thêm về vấn đề nhân sự của VC. Được sự chấp thuận của Moor, Adams bỏ thì giờ tìm đọc tất cả các tài liệu bắt được của VC (đã được CDEC chuyển dịch sang Anh ngữ) và sưu tập lại trong các thông cáo nội bộ của CIA, gọi là “Bulletin” lưu giữ trong văn khố của CIA. Ngày 18-8-1966, ông đọc đến Bulletin mang số 689 mang tựa đề là “Recaptitulated Report on the People’s Warfare Movement from Binh Dinh Province” (Báo cáo tóm lược vể phong trào chiến tranh nhân dân tại tỉnh Bình ĐInh). Tài liệu này chỉ gồm có 3 trang và do Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận của Hoa Kỳ (U.S. First Air Calvary Division, VC thường gọi là Sư Đoàn 1 Anh Cả Đỏ) tịch thu được trong một cuộc cuộc hành quân tại phía Bắc Bình Định vào ngày 30-5-1966. Tài liệu không có đề ngày, nhưng liệt kê các con số du kích và dân quân tại Bình Đinh của 3 tháng đầu năm 1966. So lại với các con số du kích – dân quân VC tại tỉnh Bình Định trong OB của MACV, Adams lại một lần nữa giựt mình vì rất giống trường hợp của Long An: [13]

Lực Lượng VC Tài Liệu của VC


Du kích 15.800
Dân Quân Tự Vệ 34.441
Tổng cộng 50.241

Tài Liệu của MACV

1.446
3.222
TC 4.668

Adams lập tức báo cáo ngay cho George Allen, và Dean Moor và được lệnh viết ngay một báo cáo chính thức về chuyện này. Trong lúc viết báo cáo này, Adams lại phát hiện thêm một tài liệu về lực lượng du kích – dân quân của VC trong tỉnh Phú Yên, ở phía Nam của tỉnh Bình Định, và nhận ra sự khác biệt giữa con số trong tài liệu của VC và tài liệu của MACV cũng giống hệt như các trường hợp của các tỉnh Long An và Bình Định: tài liệu của VC cho biết tổng số là 20.407 trong khi tài liệu của MACV chỉ ghi có 3.210. Cũng trong thời gian này, Adams lại tìm thấy một tài liệu khác còn quan trọng hơn rất nhiều. Đó là một tài liệu của Trung Ương Cục Miền Nam tức là Bộ Chỉ Huy Tối Cao của tất cả lực lượng Cộng sản tại Miền Nam Việt Nam (người Mỹ thường dùng chữ tắt để gọi là COSVN = Central Office for South Vietnam; tên chính thức là Ban Chấp Hành Trung ương của Đảng Nhân Dân Cách Mạng = Central Executive Committee of the People’s Revolutionary Party). Tài liệu này ghi rõ là “…cố gắng gia tăng lực lượng du kích và dân quân lên mức 250.000-300.000 vào cuối năm 1965.” [14] Như vậy, rõ ràng là con số ước lượng 100.000 du kích – dân quân trong OB của MACV là hoàn toàn quá thấp, khó có thể chấp nhận được. Adams quyết định đưa con số 250.000 ước tính cho lực lượng du kích – dân quân VC vào báo cáo của ông. Tuy không được mọi người hoàn toàn ủng hộ, sau cùng, ngày 8-9-1966, báo cáo của Adams cũng được R. Jack Smith, lúc đó là Phó Giám Đốc CIA Đặc Trách về Tình Báo (Depuy Director for Intelligence, hay thường được gọi tắt là DDI) cho phép in và lưu hành giới hạn (chỉ in 25 bản, thay vì 200 bản) như là một bản thảo mà thôi (draft working paper), với chỉ một bản duy nhứt gửi đi Việt Nam cho Trưởng Ban OB của MACV là Đại Tá Hawkins. Người mang bản duy nhứt này về Việt Nam cho Đại Tá Hawkins là George Fowler, một nhân viên của Cơ Quan Quân Báo của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (Defense Intelligence Agency, hay DIA).

Đương đầu với MACV

Đầu tháng 10-1966, Fowler trở về Mỹ và cho biết MACV, thông qua một yêu cầu từ Đại Tá Hawkins gửi cho các toán Cố vấn quân sự Mỹ ở khắp 44 tỉnh của VNCH, đã bắt đầu tiến hành việc xét duyệt lại tất cả các ước tính trong OB, kể cả lực lượng du kích – dân quân của VC. Một tháng sau, vào ngày 7-11-1966, Adams nhận được một tin làm ông rất phấn khởi: báo cáo đầu tiên về lực lượng du kích – dân quân của VC, theo yêu cầu của Đại Tá Hawkins, từ tỉnh Quảng Tín cho biết con số là 17.027, so với con số cũ trong OB của MACV chỉ có 1.760,[15] nghĩa là gấp 10 lần, hoàn toàn rất giống như điều mà Adams đã khám phá trước đây. Điều quan trọng hơn là lần này, con số lớn hơn 10 lần đó là do chính 1 đơn vị của MACV ghi nhận và báo cáo.

Cũng trong thời gian này, Adams khám phá thêm 2 chuyện rất quan trọng:

• Thứ nhứt là tầm quan trọng của lực lượng du kích – dân quân của VC trong Chiến Tranh Việt Nam: theo một bài báo đăng trên tờ New York Times, số ra ngày 7-10-1966, số thương vong của quân đội Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến và Chiến Tranh Việt Nam là như sau:

Nguyên Nhân Thế Chiến 2 CT Việt Nam
Pháo binh 61% 21%
Lựu đạn 2% 16%
Mìn bẩy 3% 21%

Adams tìm hiểu thêm qua trao đổi với các nhân viên CIA vốn là các cựu sĩ quan đã từng tham chiến tại Việt Nam và được biết mìn bẩy là do các lực lương du kích – dân quân của VC thực hiện. Như vậy du kích – dân quân của VC là lực lượng đã gây hơn 1/5 thống kê về thương vong của binh sĩ Hoa Kỳ, một con số thống kê rất đáng kể.

•Thứ hai là MACV đã từng cố tình hạ thấp con số về du kích – dân quân của VC trong OB của họ. Thông tin này do chính George Allen cung cấp cho Adams. Chuyện này xảy ra từ đầu năm 1963 lúc MACV còn mang danh hiệu là MAAG (Military Assistance Advisory Group) dưới quyền Tướng Paul D. Harkins. Dựa vào một tài liệu bắt được của VC, Allen tính ra con số du kích – dân quân của VC lúc đó là vào khoảng trên 100.000. Con số này đã được Ban 2 (J-2 = Tình báo) của MAAG chấp nhận nhưng khi J-2 trình lên thì Harkins không chấp nhận và chỉ cho phép ghi 70.000 thôi.

Như vậy, rõ ràng cái khó khăn của CIA sẽ là thái độ coi thường của MACV đối với tầm quan trọng của lực lượng du kích – dân quân của VC cũng như thói quen tùy tiện của MACV trong việc ước lượng lực lượng của địch trong OB của họ. Để có thể đương đầu với MACV, lực lượng đang thi hành chủ trương sử dụng quân sự tại Việt Nam của Chính phủ Hoa Kỳ, CIA cần phải đoàn kết và thống nhứt ý kiến trong nội bộ. Adams quyết định xin chuyển sang làm việc trực tiếp với George Carver và George Allen như một nhân viên của SAVA, trực thuộc dưới quyền của Giám Đốc CIA lúc đó là Richard Helms.[16] Adams chính thức làm việc với SAVA từ tháng 1-1967. Ngay trong tuần lễ đầu tiên, Adams dàn xếp để được SAVA chỉ định thuyết trình cho Hội Đồng Ước Tính Tình Báo Quốc Gia (Board of National Estimates = BNE, là một bộ phận của ONE gồm khoảng trên dưới 10 chuyên gia cao cấp về tình báo)) về lực lượng du kích – dân quân của VC. Trên cơ sở của bài thuyết trình này của Adams, BNE soạn thảo và phổ biến một tài liệu đến tất cả các cơ quan tình báo của Hoa Kỳ, và lần đầu tiên ghi rõ con số ước tính cho lực lượng du kích – dân quân của VC là “từ 250.000 đến 300.000.”

Phấn khởi với thành quả này, ngày Thứ Ba, 10-1-1967, Adams soạn thảo một văn kiện quan trọng, mang tính chất như một nghị định (decree), cho George Carver, với tư cách là SAVA, trình cho Richard Helms ký, mang tựa đề “Revising the Viet Cong Order of Battle” (Duyệt xét lại Bảng Trận Liệt của Việt Cộng), và chỉ thị cho DDI (Deputy Director for Intelligence, lúc đó là R. Jack Smith) thi hành.

Mười ngày sau, Thứ Sáu 20-1-1967, CIA nhận được một văn thư từ Đại Tướng Earl G. Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Chairman of the Joint Chiefs of Staff, sĩ quan cao cấp nhứt của quân đội Hoa Kỳ, dứng đầu Bộ Tham Mưu Liên Quân gồm 4 vị tướng Tham Mưu Trường của 4 quân chủng Hải Quân, Lục Quân, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, do chính Tổng Thống bổ nhiệm, với nhiệm kỳ là 2 năm và có thể được tái bổ nhiệm). Văn thư nói lên phản ứng tiêu cực của Bộ Quốc Phòng và Quân Đội đối với con số ước tính mới về lực lượng du kích – dân quân của CIA trong văn kiện do BNE phổ biến. Wheeler cũng quyết định triệu tập một hội nghị tại Honolulu (tiểu bang Hawaii) vào ngày 6-2-1967 để các đại diện chính thức của CIA, DIA, MACV, vv. thảo luận và giải quyến vấn đề khác biệt giữa các con số OB của CIA và MACV. Trên thực tế, hội nghị này chẳng giải quyết gì cả, chỉ khẳng định là OB là thuộc lãnh vực thẩm quyền của MACV mà thôi. Như vậy, lập trường của MACV về OB đã lộ rõ. MACV sẽ không theo đề nghị của CIA về con số ước tính lực lượng du kích – dân quân VC của CIA, mà MACV cho là quá cao. CIA cũng không nhượng bộ, không chấp nhận con số của MACV mà CIA cho là quá thấp. Theo MACV, toàn bộ (kể cả du kích – dân quân) lực lượng của VC là khoảng 270.000 người, trong khi đó CIA tin rằng con số này phải là gần 600.000.[17]

Các cuộc tranh luận về SNIE 14.3-67

Ngày 12-6-1967, ONE công bố bản thảo của SNIE 14.3-67 trong đó sử dụng con số ước tính 250.000 cho lực lượng du kích – dân quân của VC. Cuộc thảo luận đầu tiên về SNIE 14.3-67 được ấn định vào ngày 23-6-1967.

Cuộc thảo luận đầu tiên này chỉ là để cả hai phe, CIA và MACV, thăm dò phản ứng của nhau thôi nên không đi tới đâu cả. Cả hai phe đều giữ vững lập trường, cố gắng bảo vệ con số của mình đưa ra, và phản bác con số của đối phương đưa ra. Trong tháng 6-1967 còn có thêm ba cuộc thảo luận nữa nhưng lập trường của cả hai phe cũng vẫn như cũ. Đầu tháng 7-1967, Adams nhận được 1 công điện mật từ Sài Gòn do George Carver gởi về. Carver cho biết đã có một buổi họp với Đại Tá Hawkins, Trưởng Ban OB của MACV và Thiếu Tướng Philip B. Davidson, vừa mới thay thế Thiếu Tướng Joseph A. McChristian trong chức vụ Trưởng Ban Tình Báo (J-2) của MACV. Buổi họp diễn ra khá tốt đẹp với kết quả là lập trường của MACV đã có nhiều thay đổi và tiến gần với lập trường của CIA. Cụ thể là: 1) Đại Tá Hawkins đồng ý trên căn bản đối với con số ước tính 100.000 người của CIA về lực lượng du kích của VC; ông cũng cho rằng con số 75.000 của CIA về lực lượng hậu cần (service troops) của VC chỉ là hơi cao một chút mà thôi; 2) Sau khi nghe Tướng Davidson cho biết nếu chấp nhận hoàn toàn con số OB cao của CIA, MACV sẽ gặp khó khăn lớn về chính trị, nhứt là với báo chí, Carver đã đề nghị một giải pháp thỏa hiệp như sau: chia OB (với tổng số khoảng 500.000) thành 2 phần, phần “quân sự” bao gồm các lực lượng chính quy, hậu cần, và du kích, với tổng số khoảng 300.000, và phần “dân sự” bao gồm dân quân tự vệ, và cán bộ chính trị, với tổng số khoảng 200.000; với cách này, MACV sẽ dễ biện minh hơn cho tổng số mới của OB. Tướng Davidson cho rằng đây có vẻ là một ý kiến hay và hứa là ông sẽ trình lại với Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV. Để cho MACV có thời gian giải quyết những khó khăn trong nội bộ, CIA quyết định dời phiên họp kế tiếp về SNIE 13.4-67 sang tháng 8-1967, khi đó chính Đại Tá Hawkins sẽ từ Sài Gòn sang dự.[18]

Khi cuộc họp diễn ra vào đầu tháng 8-1967 với sự hiện diện của Đại Tá Hawkins từ Sài Gòn sang thì Adams bị hoàn toàn bất ngờ. Bảng OB trình bày lực lượng của VC gần như không thay đỗi gì cả với tổng số là 298.900 như sau: [19]

Quân chính quy 120.400
Quân hậu cần 26.000
Du kích – Dân Quân 65.000
Cán bộ chính trị 87.500
Tổng số 298.900

Về phía MACV, cùng tham dự buổi họp với Đại Tá Hawkind còn có Chuẩn Tướng George A. Godding, Deputy J-2 của MACV, tức là phó tướng của Thiếu Tướng Davidson. Ngoài ra, trong các lúc nghỉ giải lao, Đại Tá Hawkins luôn luôn cho các nhân viên CIA biết là ông tin rằng các con số của CIA là đúng hơn các con số của MACV, nhưng mỗi khi họp thì ông luôn luôn nói theo các con số chính thức của MACV. Các tín hiệu này cho phép Adams nghĩ và tin rằng Đại Tá Hawkins đã bị trói tay và sự hiện diện của Tướng Godding là để kềm chế ông. Cuộc họp về SNIE 14.3-67 lần này diễn ra trên 10 ngày với rất nhiều buổi họp nhưng cũng chẳng đi tới một thỏa hiệp nào gữa CIA và MACV. Một điều chắc chắn là MACV, mà Tư Lệnh là Đại Tướng William Westmoreland và Tư Lệnh Phó là Đại Tướng Creighton Abrams, đã dứt khoát quyết định không chấp nhận ước tính về lực lượng VC của CIA. Tại sao vậy ?

Chính-trị-hóa tình báo

Adams không phải chờ đợi lâu để hiểu rõ lập trường của MACV. Ngày 21-8-1967, Tướng Abrams, Tư Lệnh Phó của MACV, gửi 1 công điện cho Tướng Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và Tướng Wheeler đã chuyển cho CIA. Trong công điện, Abrams nói rõ quan điểm của MACV đối với SNIE 14.3-67 là phải loại bỏ ước tính của CIA về lực lượng dân quân của VC vì, nếu giữ lại, thì tổng số lực lượng của VC sẽ vượt xa con số mà Bộ Tư Lệnh MACV đã trình bày với báo chí tại Việt Nam. Từ mấy tháng qua, MACV đã tiên đoán về một chiến thắng sắp tới; nếu bây giờ con số lực lượng cao như vậy của VC được công chúng biết đến thì khó mà ngăn cản báo chí đi đến một kết luận đen tối và sai lầm. Một lúc sau, Tướng Westmoreland cũng gởi một công điện cho biết hoàn toàn đồng ý với Tướng Abrams.[20]

Như vậy, quan điểm của MACV đã rất rõ ràng: họ dứt khoát không chấp nhận, và sẳn sàng bỏ qua ước tính tình báo của CIA không phải vì ước tính này sai lầm mà chỉ vì ước tính này đi ngược lại cái nhìn lạc quan (sắp thắng VC đến nơi rồi) của họ về Chiến tranh Việt Nam. Lập trường lạc quan này của MACV dựa trên hai tiền đề như sau: 1) chiến lược “Search and Destroy = Lùng và Diệt địch,” nồng cốt của quan niệm chiến tranh tiêu hao (war of attrition) làm cho địch bị kiệt quệ dần về nhân lực và sau cùng phải chịu bỏ cuộc; 2) quan niệm về “Crossover Point = Điểm vượt,” thời điểm khi sự hao mòn về nhân lực của địch vượt quá khả năng bổ sung của địch. Dựa vào OB của VC mà họ đã ước tính thì tại thời điểm giữa năm 1967 này, VC đã sắp đến “điểm vượt” rồi.[21] Đến tháng 6, dựa trên một báo cáo của Đại Tá Daniel Graham, một phân tích viên của ban OB thuộc J-2, MACV tin rằng VC đã đến “điểm vượt” rồi.[22] Lập trường lạc quan này cũng chính là điều mong ước của Chính phủ Hoa Kỳ do Tổng Thống Johnson lãnh đạo. Từ khi lập quốc, trong gần 2 thế kỷ, Hoa Kỳ chưa bao giờ bại trận, và từ sau Thế Chiến 2, Hoa Kỳ đã trở thành cường quốc số 1 của thế giới. Chuyện tin tưởng là Hoa Kỳ cũng sẽ thắng trong cuộc chiến tranh này tại Việt Nam cũng là một điều có thể được chấp nhận đễ dàng. Lập trường lạc quan của Bộ Tư Lệnh MACV tại Việt Nam, dĩ nhiên, đã được báo cáo về Mỹ và hoàn toàn được Chính phủ Johnson hoan nghênh và tích cực ủng hộ. Trên thực tế, nó đã trở thành lập trường chính thức của Chính phủ Mỹ. Cơ quan CIA là một bộ phận của Chính phủ Mỹ, và Giám Đốc CIA, Richard Helms, do chính Tổng Thống Johnson bổ nhiệm, không thể đi ngược lại đường lối, chủ trương của Chính phủ Mỹ được. Do đó, chuyện phải xảy ra đã xảy ra.

Đầu tháng 9-1967, cùng với Carver cầm đầu phái đoàn CIA, Adams bay sang Sài Gòn để dự một hội nghị về OB tại tổng hành dinh của MACV tại Tân Sơn Nhứt. Hội nghị OB khai mạc đúng 10:30 sáng Thứ Bảy, 9-9-1967, dưới sự chủ tọa của Tướng Davidson, J-2 của MACV. Carver giữ vững lập trường của CIA, tích cực chống lưng cho Adams trong việc đối phó với Tướng Davidson và các thủ hạ của ông ta, từng bước đánh đổ các ước tính của MACV. Trước tình hình này, MACV đành phải dùng đến con bài chủ để đánh bại Carver: lệnh của Chính phủ Hoa Kỳ. Cơ quan CIA, mà đứng đầu là Giám Đốc Richard Helms, đã bị áp lực rất nặng nề từ phía chính quyền Johnson. Kết quả là ngày Thứ Hai, 11-9-1967, Carver đã nhận được một công điện từ Helms ra lệnh cho ông phải, bằng mọi cách, đi đến đồng thuận với MACV. Ngay ngày hôm đó, Carver điện về cho Helms, với câu mở đầu như sau: “We have squared the circle.” (Tạm dịch: Chúng ta đã đóng khung vuông được cái vòng tròn rồi, nghĩa bóng: Chúng ta đã làm xong được cái chuyện không thể nào làm được). Ngày hôm sau, Thứ Ba, 12-9-1967, ước tính OB của VC mà MACV và CIA đồng thuận là như sau: [23]

Quân chính quy 119.000
Quân hậu cần 37.500
Quân du kích 80.000
Tổng số quân 236.500
Cán bộ chính trị 80.000


Trở về Mỹ, CIA tiếp tục tổ chức các cuộc thảo luận về SNIE 14.3-67 với các cơ quan tình báo khác của Hoa Kỳ. Adams tiếp tục chống đối trong vô vọng. Sau cùng, SNIE 14.3-67 cũng được thông qua và công bố ngày 13-11-1967 với chữ ký của Richard Helms, Giám Đốc CIA và với sự đồng thuận của:

•Thomas L. Hughes, Giám Đốc INR của Bộ Ngoại Giao
•Trung Tướng Joseph F. Carroll, Giám Đốc DIA, Bộ Quốc Phòng
•Trung Tướng Marshall S. Carter, Giám Đốc NSA (National Security Agency = Cơ Quan An Ninh Quốc Gia)

Trong tài liệu này, lực lượng quân sự của Cộng sản tại Miền Nam được ghi rõ như sau: [24]
• Quân chính quy Bắc Việt: 54.000
• Quân chính quy và địa
phương của Việt Cộng: 64.000
Tổng cộng: 118.000

Con số quân du kích được ước tính vào khoảng 70.000 – 90.000 (tr. 14 của SNIE 14.3-67). Tài liệu SNIE 14.3-67 cũng có bàn đến lực lượng dân quân tự vệ của VC, và có ghi nhận là một số tài liệu có cho biết là vào đầu năm 1966 lực lượng này gồm khoảng 150.000 nhưng nói rõ là lực lượng này hoàn toàn bị loại bỏ, không được tính vào tổng số lực lượng quân sự của VC.[25]

Hậu quả của việc chính-trị-hóa tình báo

Các cơ quan tình báo của các quốc gia đều có nhiệm vụ cung cấp cho các nhà lãnh đạo những tin tức mà họ thu thập được và đã được họ đánh giá là có mức độ khả tín cao để giúp cho các nhà lãnh đạo thực hiện được những chính sách đúng đắn. Vì thế, trên nguyên tắc, về phương diện tổ chức, các cơ quan tình báo thường có cơ chế độc lập, không lệ thuộc nặng nề vào các tổ chức chính quyền. Do đó, một khi cơ quan tình báo chịu sự sai khiến của chính quyền, và chỉ cung cấp cho chính quyền những tin tức mà chính quyền muốn có, muốn nghe thì hậu quả chắc chắn sẽ không tốt đẹp. Và đó chính là hoàn cảnh mà CIA đã lâm vào trong thời gian cuối năm 1967, đưa đến việc họ đã không tiên đoán được vụ Tổng Tấn Công Mậu Thân vào cuối tháng 1-1968.

Cuối tháng 11-1967, Walt W. Rostow, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Johnson, yêu cầu Trạm CIA tại Sài Gòn gởi một báo cáo về những phát triển mới nhứt trong chiến lược của phe Cộng sản. Một ngày sau Lễ Tạ Ỏn (Thanksgiving) của năm 1967, tức là ngày Thứ Sáu, 24-11-1967, Trạm CIA tại Sài Gòn gửi về cho Rostow một báo cáo do phân tích viên Joseph Hovey thực hiện. Trong báo cáo, Hovey nói rõ là Chiến dịch Đông-Xuân 1967-1968 của Cộng quân gồm 3 đợt; đợt 1 đã bắt đầu trong tháng 9-1967 vừa qua, và đợt 3 sẽ chấm dứt vào tháng 6-1968; nhiều tài liệu tịch thu được của địch, đã được ghi chú trong báo cáo, cho biết Cộng quân, nhắm đạt một chiến thắng quyết định trong năm 1968, sẽ thực hiện một cuộc tổng tấn công nhắm vào các thành phố trên khắp lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.[26]

Rostow đã chuyển cho CIA một bản của báo cáo này và người nhận chính là George Carver, Phụ Tá Đặc Biệt về Việt Nam (SAVA = Special Assistant for Vietnam Affairs) của Giám Đốc CIA Richard Helms. Carver chính là người đã ủng hộ Adams rất tích cực trong vụ tranh chấp về OB của VC với MACV, nhưng sau đó, theo lệnh của Helms, đã thỏa hiệp với MACV. Carver giao cho phụ tá của mình là George Allen xét duyệt báo cáo này. Carver bác bỏ báo cáo, cho rằng những tài liệu tịch thu được của địch đã được nêu trong báo cáo là không đáng tin vì VC cũng đã từng rêu rao về một “chiến thắng quyết định” như vậy từ năm 1966.

Sang đầu tháng 12-1967, ngày 8-12-1967, Joseph Hovey lại gởi thêm một báo cáo nữa, khẳng định lại điều đã ghi nhận trong báo cáo trước (về cuộc Tổng Tấn Công sắp diễn ra của VC vào các thành phố của VNCH) nhưng với nhiều chi tiết hơn, đặc biệt nhấn mạnh là VC sẽ tổ chức các cuộc tấn công lớn ở biên giới để cầm chân các lực lượng của Hoa Kỳ để cho cuộc tổng tấn công vào các thành phố được dễ dàng thành công hơn. Lần này, khi nhận được báo cáo thứ nhì của Hovey, Carver giao cho Phòng Tình Báo Hiện Hành (Office of Current Intelligence = OCI) xét duyệt, và OCI cũng đã bác bỏ báo cáo này, cho rằng Trạm CIA Sài Gòn đã thổi phồng, cường điệu tình hình của địch. Khác với lần trước, lần này Carver cũng tham khảo cả Adams. Adams tin là phân tích của Sài Gòn là rất đáng tin. Như vậy, chỉ có một mình Adams là tin vào báo cáo của Sài Gòn, toàn thể CIA đã không tin, và đã báo cáo như thế cho Rostow.

Cuối năm 1967, Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV, được triệu về Mỹ để khẳng định lập trường lạc quan này của Chính Phủ Johnson. Ngày 21-11-1967, Westmoreland tuyên bố tại Washinton, D.C. là chiến tranh Việt Nam sắp kết thúc tới nơi rồi.[27]

Thay Lời Kết

Về sau, tất cả mọi người đều đã biết là mọi việc đã diễn ra đúng như báo cáo của Hovey. CIA đã thất bại hoàn toàn, không tiên đoán được cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã diễn ra trên khắp lãnh thổ của VNCH vào cuối tháng 1-1968. Cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân sau đó đã là thất bại quân sự rất lớn cho VC nhưng đã đạt được thành quả chính trị vô cùng to lớn. Dân chúng Mỹ không còn tin vào chính phủ nữa, phong trào phản chiến ngày càng mạnh thêm. Tổng Thống Johnson bác bỏ yêu cầu tăng thêm quân của Tướng Westmoreland, chấm dứt nhiệm vụ Tư Lệnh MACV của ông, và cử Tướng Abrams lên thay. Tổng Thống Johnson cũng quyết định không ra tái tranh cử Tổng Thống, và quyết định xuống thang chiến tranh, ngưng oanh tạc Bắc Việt, và kêu gọi phe Cộng sản đến bàn hội nghị. Về phần Adams, sau khi CIA thỏa hiệp với MACV, ông đã chính thức yêu cầu văn phòng Tổng Thanh Tra của CIA mở cuộc điều tra nhưng không đi tới đâu. Ông đã mang một số khá lớn các tài liệu mật của CIA về vụ này ra khỏi cơ quan và chôn dấu trong một khu rừng gần nhà ông. Tháng 5-1973, ông từ chức không làm cho CIA nữa. Sau đó ông liên lạc với nhiều dân biểu quốc hội Mỹ để nói cho họ biết về việc này nhưng không có dân biểu nào quan tâm. Do đó ông quyết định phải viết báo.

Năm 1975, ông viết một bài báo cho tạp chí Harper’s; bài báo được đăng vào tháng đầu 5-1975 nhưng đúng vào lúc VNCH sụp đổ nên bài báo bị chìm đi. Năm 1982, đài truyền hình CBS mời ông cộng tác trong việc thực hiện một chương trình phóng sự điều tra mang tên “The Uncounted Enemy: A Vietnam Deception.” Tướng Westmoreland cho rằng ông bị lăng mạ bởi phóng sự đó nên đã kiện CBS ra tòa. Nội vụ kéo dài mấy năm, với rất nhiều nhân chứng quan trọng. Sau cùng, trước khi tòa án giao cho bồi thẩm đoàn thảo luận, Westmoreland rút lại đơn kiện vào ngày 18-2-1985. Adams đột ngột qua đời vào ngày 10-10-1988 khi còn đang viết chưa xong cuốn hồi ký của ông “War of Numbers.” Từ 2002, các bạn đồng nghiệp CIA của ông tạo ra một giải thưởng mang tên là “Sam Adams Award for Integrity in Intelligence” để tưởng niệm ông.

Ghi Chú:

1. Adams political family, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wìkipedia.org/wiki/Adams_political_family
2. Adams, Sam. War of numbers: an intelligence memoir ; introduction by Colonel David Hackworth. South Royalton, Vermont. : Steerforth Press, 1994. Tr. 33-35.
3. Tướng William C. Westmoreland (1914-2005) là một Đại Tướng. Hệ thống tướng lãnh của quân đội Mỹ là như sau: Brigadier-General = Chuẩn Tướng, 1 sao); Major-General = Thiếu Tướng, 2 sao; Lieutenant-General = Trung Tướng, 3 sao; và Full General hay General = Đại Tướng, 4 sao. Trước kia, còn có cấp General of the Army = Thống Tướng, 5 sao, như các Tướng Douglas McArthur, Dwight Eisenhower, và Omar Bradley. Tướng Bradley là vị Thống Tướng sau cùng của quân đội Hoa Kỳ; sau khi ông qua đời chưa có một tướng lãnh nào được phong lên cấp bậc này nữa cả). Tướng Westmoreland sinh ngày 26-03-1914 tại Spartanburg County, tiểu bang South Carolina. Ông tốt nghiệp trường Vơ Bị West Point khóa 1936. Trong thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, ông ch̀ huy một tiểu đoàn pháo binh tại mặt trận Bắc Phi, Sicile và Pháp, và là Tham Mưu Trưởng cûa Sư đoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ trong giai đoạn cuối cûa Thế Chiến 2. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, ông là Tư Lệnh Trung đoàn 187 nhảy dù. Sau chiến tranh Triều Tiên ông là Tư Lệnh Sư đoàn Dù 101 nổi tiếng của Hoa Kỳ. Năm 1960, ông được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng trường Vơ Bị West Point. Đầu năm 1964, ông được bổ nhiệm Tư Lệnh Phó lực lượng cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam, dưới quyền Tướng Paul Harkins. Từ tháng 6 năm 1964, ông thay thế tướng Harkins làm Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong thời gian 1964-1968, với sự hỗ trợ tích cực của Tổng Thống Johnson, ông đă đưa quân số cûa lực lượng này lên đến trên nửa triệu quân. Ông cũng là ngườ đã thực hiện chiến lược “Lùng và Diệt Địch” cûa quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam. Sau cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân cûa Việt Công, ông bị rút về Mỹ vào tháng 7 năm 1968. Sau đó ông giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ (U.S. Army Chief of Staff) cho đến khi ông về hưu năm 1972. Ông là tác giä quyển sách “A Soldier Reports” (Garden City, N.Y.: Doubleday, 1976).
4. MACV là chữ viết tắt của Military Assistance Command – Vietnam, tức là Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
5. RAND Corporation là một tổ chức bất vụ lợi (non-profit organization) do Công ty sản xuất phi cơ Douglas Aircraft Company của Hoa Kỳ thành lập vào năm 1948 để phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển (Research and Development, vì thế nên tổ chức được đặt tên là RAND) cho Không Lực Hoa Kỳ. Sang thập niên 1960, RAND trở thành 1 think tank có mục tiêu là trợ giúp chính phủ Hoa Kỳ trong việc nghiên cứu và hình thành các chính sách. Do đó, RAND đã tham gia rất tích cực vào các dự án nghiên cứu cho Chính phủ Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh Việt Nam.
6. Adams, sđd, tr. 46.
7. Số binh sĩ tử trận (KIA = Killed In Action) của quân đội Mỹ trong năm 1966 đã gia tăng như sau:
- Tháng 1: 196
- Tháng 2: 208
- Tháng 3: 231
- Tháng 4: 245
- Tháng 5: 255
- Tháng 6: 268
- Tháng 7: 277
- Tháng 8: 297
- Tháng 9: 313
- Tháng 10: 342
- Tháng 11: 356
- Tháng 12: 385
Nguồn: Vietnam War deaths and casualties by month, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.americanwarlibrary.com/vietnam/vwc24.htm
8. Air America là 1 công ty hàng không do chính phủ Hoa Kỳ thành lập, và được cơ quan CIA sử dụng trong các hoạt động cả công khai lẩn bí mật. Nó là đề tài cho cuốn phim của Hollywood có cùng tên, sản xuất năm 1990, do 2 tài tử Mel Gibson và Robert Downey, Jr. đóng vai chánh, nói về các hoạt động bí mật của CIA (buôn thuốc phiện trắng) tại Lào.
9. Đoàn Thêm. 1966: việc từng ngày; tựa của Lãng Nhân. Sài Gòn: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 1968. Los Alamitos, Calif.: Xuân Thu tái bản, 1989. Tr. 29.
10. Adams, sđd, tr. 58. Nguyên văn trong sách như sau: “…The 506th’s up in the northern part of the province, up near Hau Nghia. It’s back up to T, O and E.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “… Tiểu đoàn 506 đã có mặt tại phía Bắc của tỉnh, gần Hậu Nghĩa. Nó đã bổ sung xong đầy đủ quân số và trang bị.” Các chữ “T,O and E” là viết tắt cho “Table of Organization and Equipment” trong ngữ vựng tình báo Mỹ và có nghĩa là “đầy đủ quân số và trang bị.”
11. Adams, sdd, tr. 59-60.
12. Lâm Vĩnh Thế. Tình báo trong Chiến Tranh Việt Nam, tài liệu trực tuyến, đã đăng trong trang Web Nam Kỳ Lục Tỉnh, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyl...tranh-viet-nam, tr. 18-19.
13. Adams, sđd, tr. 65-66.
14. Adams, sđd, tr. 68.
15. Adams, sđd, tr. 77.
16. Richard Helms, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Helms Helms là 1 nhân viên tình báo chuyên nghiệp, xuất thân từ tổ chức OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA, trong thời gian Đệ Nhị Thế Chiến); khi CIA được thành lập, ông là Chief of Operations, dưới quyền DDP (Deputy Director for Plans) Frank Wisner; sau đó ông trở thành DDP dưới thời Tổng Thống Kennedy, và sau cùng được Tổng Thống Johnson bổ nhiệm làm Giám Đốc CIA (DCI = Director of Central Intelligence).
17. Ford, Ronnie E. Tet 1968: understanding the surprise; forewords by General William C. Westmoreland and George W. Allen. London: Frank Cass, 1995. Tr. 172-173.
18. Adams, sđd, tr. 96-97.
19. Adams, tr. 101.
20. Adams, sđd, tr. 106. Công điện của Abrams có những đoạn như sau: “… the resulting sum would be in sharp contrast to the current overall strength figure of about 299,000 given to the press here… We have been projecting an image of success over recent months… if the higher numbers were to become public, all caveats and explanations will not prevent the press from drawing an erroneous and gloomy conclusion…” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “… tổng số đưa đến sẽ nghịch hẳn với tổng số hiện nay cho toàn bộ lực lượng [của VC] là 299.000 đã cung cấp cho báo chí ở đây… Mấy tháng vừa qua, chúng ta đã đưa ra một hình ảnh chiến thắng … nếu những con số cao hơn đó được công bố , tất cả những báo động, giải thích sẽ không ngăn chận được báo chí đi đến kết luận sai lầm và ảm đạm …” Công điện của Westmoreland có những đoạn như sau: “… I have just read General Abrams’ [message], and I agree… no possible explanations could prevent the erroneous conclusions that would result.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “… Tôi vừa đọc xong [công điện] của Tướng Abrams, và tôi đồng ý… không có lời giải thích nào có thể ngăn chận được những kết luận sai lầm từ đó.”
21. Ford, Harold P. CIA and the Vietnam policymakers: three episodes, 1962-1968. Langley, Va.: Central Intelligence Agency, Center for the Study of Intelligence, 1998. Tr. 87. Tác giả viết rõ như sau: “… the MACV staff had been claiming for some time that the enemy was suffering great losses in Vietnam, and in mid-1967 predicted that a “crossover” would soon occur when losses would exceed the replacement capacity;…” Tạm dich sang Việt ngữ như sau: “… nhân viên MACV, trong một thời gian, đã cho rằng địch đã bị thiệt hại nặng tại Việt Nam, và vào giữa năm 1967 đã tiên đoán rằng “điểm vượt” sắp xảy ra khi thiệt hại vượt quá khả năng bổ sung; …).
22. Wirtz, James J. The Tet Offensive: intelligence failure in war. Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1991. Tr. 119. Nguyên văn Anh ngữ như sau: “In June 1967, MACV analysts claimed that the crossover point had been reached throughgout South Vietnam. In the “Crossover Memo of June 1967,” Col. Daniel Graham, an analyst in the order-of-battle section at MACV J-2, stated that the monthly infiltration rate had dropped to 6,000-7,000 men per month, and that VC recruitment had dropped to 3,500 per month. At these rates, the enemy was losing men faster than they could be replaced. Graham’s memo formed the basis of the June measurement of progress report, which stated that the crossover point had been reached.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Vào tháng 6-1967, các phân tích viên của MACV cho rằng đã đạt đến điểm vượt trên khắp lãnh thổ của Nam Việt Nam. Trong “Công văn về điểm vượt tháng 6-1967,” Đại Tá Daniel Graham, phân tích viên của ban OB của J-2 của MACV, cho biết là mức độ xâm nhập hàng tháng của địch đã giảm xuống còn 6.000-7.000 người một tháng, và mức độ tuyển mộ của VC đã giảm xuống còn 3.500 một tháng. Với các mức độ này, địch quân đang tổn thất người nhanh hơn mức bổ sung. Công văn của Graham đã tạo nên căn bản cho các tính toán trong báo cáo của tháng 6 cho rằng điểm vượt đã đạt đến.”
23. Adams, sđd, tr. 117.
24. Special National Intelligence Estimate Number 14.3-67: Capabilities of the Vietnamese Communists for Fighting in South Vietnam, tr. 11.
25. Tài liệu SNIE 14.3-67 vừa kể trên, tr. 15-16.
26. Ovodenko, Alexander, “Visions of the enemy from the field and from abroad: revisiting CIA and military expectations of the Tet Offensive,” Journal of strategic studies, v. 34, no. 1 (Feb. 2011), tr. 125. Nguyên văn Anh ngữ như sau: “…that the Winter–Spring campaign consisted of three phases, with the first phase having begun in September 1967 and the third phase expected to end in June 1968. Captured documents referenced in the report suggested that the communists intended to achieve a decisive victory in 1968 by launching large-scale offensives, including against urban centers throughout South Vietnam,...”
27. Valentine, Tom. Credibility gap, tài liệu trực tuyến, đăng trong trang Web The Vietnam War, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://thevietnamwar.info/vietnam-wa...edibility-gap/ Bài viết này có ghi như sau: “Throughout 1967, Johnson administration began to propagate an optimistic picture about the U.S. situation in Vietnam. In late 1967, General William Westmoreland, the head commander of Military Assistance Command, Vietnam (MACV), returned to the United States to give an upbeat assessment of the American War in Vietnam. In the speech before the National Press Club in Washington D.C. on November 21, Westmoreland announced the U.S. “had turned the corner in the war” and that the end of the war in Vietnam “began to come into view”. Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Suốt năm 1967, chính phủ Johnson bắt đầu phổ biên một hình ảnh lạc quan về tình hình của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Cuối năm 1967, Tướng William Westmoreland, cầm đầu Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, về Mỹ để cung cấp một đánh giá phấn khởi về Chiến tranh Việt Nam. Trong bài diễn văn tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia tại Washington, D.C. vào ngày 21 Tháng Mười Một, Westmoreland tuyên bố là Hoa Kỳ “đã vượt qua khúc quanh của cuộc chiến” và kết thúc của cuộc chiến “đã bắt đầu hiện ra trong tầm nhìn.”



Lâm Vĩnh Thế
Librarian Emeritus, M.L.S.
University of Saskatchewan
CANADA
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1545056443-LVT2.jpg
Views:	0
Size:	145.7 KB
ID:	1337927   Click image for larger version

Name:	1545056454-SamAdam.jpg
Views:	0
Size:	28.3 KB
ID:	1337928  

Last edited by hoanglan22; 02-08-2019 at 05:04.
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019)
Old 02-11-2019   #45
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Sài G̣n xưa : Ăn Chơi ngày Tết

“Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó…”

Đó là những ca từ mở đầu cho bài nhạc quen thuộc “Ly rượu mừng” [1] của nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương. Mỗi độ xuân về, cho đến tận bây giờ, “Ly rượu mừng” đă đi vào kư ức của người miền Nam nói chung và người Sài G̣n nói riêng. Tuy nhiên, măi tới năm nay (2016) nhà nước mới “cởi trói” [2] cho một bản nhạc tưởng chừng như… “vô tội vạ”.

H́nh như, theo quan điểm chính trị của Cục Nghệ thuật Biểu diễn, lời của bản nhạc có câu chúc “người binh sĩ lên đàng” rồi lại vinh danh họ là “người v́ nước quên thân ḿnh”… (hiểu ngầm là quân nhân VNCH):

“… Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người v́ Nước quên thân ḿnh…”

Bản nhạc được sáng tác năm 1956 với âm điệu tươi vui như một lời chúc Tết tốt đẹp theo truyền thống dân tộc. Lời chúc đó gửi tới mọi thành phần xă hội: từ “anh nông phu”, “người công nhân”, “đôi uyên ương”, “người nghệ sĩ” cho đến các thương gia và binh sĩ. Ngay từ khi ra đời, ca khúc đă được ḷng khán thính giả và là tác phẩm được nghe nhiều nhất trong mỗi dịp xuân về tại Miền Nam.



“Ly rượu mừng”, nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần thứ nhất, năm 1956

Sài G̣n xưa ăn Tết rất kỹ. Theo đúng tính cách phóng khoáng, “xả láng” và “chịu chơi” của người Phương Nam:

“Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”.

Người Miền Nam dùng thuật ngữ “ăn nhậu” để mô tả những hoạt động vui chơi, giải trí sau những ngày làm việc cật lực. Đó là cái tinh thần… “xả láng sáng về sớm”. Ngày Tết người ta tạm quên những công việc hàng ngày để đón mừng năm mới với hai thú vui chính là ăn uống và “nhậu nhẹt”.

Tùy theo túi tiền của từng người, rượu có thể là “rượu tây” thứ “xịn” như Whiskey, Bourbon, Johny Walker (Ông Già Chống Gậy), Champagne… hoặc các loại rượu “nội hóa” như Đế G̣ Đen hay chai bia BGI “Con Cọp”… Để “đưa cay” nhiều khi chỉ cần “củ kiệu tôm khô”, thậm chí chỉ là miếng xoài, trái cóc. Dân nhậu thường nhắc:

“Ăn nem Thủ Đức
Uống rượu Bến Lức G̣ Đen”.




Rượu Đế G̣ Đen

Đối với nhiều gia đ́nh, thiếu bánh chưng, bánh tét sẽ mất đi hương vị của Tết. Có nghèo lắm cũng cố rước về 1 hay 2 đ̣n bánh tét để trước là cúng ông bà và sau đó là “xẻ” ra cho con cháu để t́m lại chút hương vị ngày xuân. Có thêm vài miếng dưa món ăn kèm sẽ làm cho miếng bánh chưng, bánh tét đỡ ngán!

Nồi thịt kho hột vịt lúc nào cũng hiện diện trên bếp, hâm đi hâm lại sau mỗi lần ăn. Hạt dưa cắn lách tách đến độ đỏ hết hai vành môi, khỏi cần tô son. Có nhiều loại mứt Tết làm từ cây trái: mứt dừa, mứt bí, mứt măng cầu, mứt me… Trái cây tươi th́ có dưa hấu giải nhiệt trong cái nắng hanh vàng của những ngày Tết.

Người Sài G̣n có câu thật dí dỏm “Cầu Dừa Đủ Xài” là tổng hợp của của 4 loại trái: măng cầu, dừa, đu đủ và xoài. Ngày nay, lang thang trên mạng tôi bắt gặp không phải là 4 thứ trái cây mà c̣n thêm cả Bơm (táo), Vú (vú sữa), Sung, Quất (tắc), Bầu.. Ta có một bài thơ “ngũ ngôn tứ tuyệt” rất gợi h́nh trong ngày Tết:

“Bơm vú dừa đủ xài
Cầu sung dừa đủ quất
Cầu quất dừa đủ bầu
Cầu bầu dừa đủ sữa”



Hết “ăn” lại nói đến chuyện “chơi” trong ngày Tết. Về khoản này, dân Sài G̣n chiếm ngôi vị “số dách” trong các món chơi. Tuy nhiên, cũng phải xác định có hai cách: “chơi” trong nhà và “chơi” ngoài đường. Nói khác đi là những tṛ đỏ đen, bài bạc vui xuân ngoài cộng đồng hoặc trong gia đ́nh.

Có thể nói, “bầu cua cá cọp” là món thịnh hành nhất trong ngày Tết, diễn ra khắp mọi nơi, từ trong nhà ra ngoài đường. Ṣng bầu cua lưu động ngoài đường c̣n có cả những người “canh me”, hễ thấy bóng dáng “phú-lít” là báo động giải tán.

Lập ṣng bầu cua cũng đơn giản. Chỉ cần một miếng vải hoặc giấy vẽ h́nh 6 biểu tượng: nai, bầu, gà, cá, tôm và cua. Nhà cái c̣n trang bị thêm 3 viên súc sắc h́nh khối vuông, trên mỗi mặt có vẽ h́nh các biểu tượng tương ứng với 6 “linh vật”. Cần thêm một cái chén và cái đĩa để “lắc” ba viên xúc xắc.

Người chơi chỉ việc đặt tiền vào những “linh vật” sau khi nhà cái lắc 3 viên súc sắc được giữ kín trong chén úp trên đĩa. Sau khi mở chén, ba con súc sắc xuất hiện 3 “linh vật” và những ai đặt tiền vào linh vật đó sẽ được nhà cái “chung tiền”. Ngược lại, tiền đặt vào những ô không xuất hiện nhà cái sẽ… “hốt” hết.

Tính theo xác suất tỷ lệ thắng thua đối với nhà cái là 50% nhưng thực tế mỗi lần mở chén nhà cái chỉ thắng hoặc huề chứ ít khi thua. Trường hợp cả ba súc sắc đều giống nhau, nhà cái sẽ chung gấp ba nhưng nếu không ai đặt cửa này th́ nhà cái sẽ “thắng lớn” v́ gom tiền hết ṣng!

Có người giải thích tṛ “bầu cua cá cọp” là một biến thể của “roulette” ở Phương Tây hay “tài sửu” (đại & tiểu) của Tầu. Đây là một tṛ cờ bạc thuộc loại “b́nh dân” có sức hấp dẫn cả người lớn lẫn trẻ em. Đối với trẻ em, nhân ngày Tết nhận tiền “ĺ x́” thường ghé vào các đám bầu cua trong xóm hoặc vui chơi trong gia đ́nh, anh chị em tổ chức đánh bầu cua “thử thời vận năm mới”. Có một câu hát dí dỏm trẻ con đặt ra thời xa xưa khi chuyện chưởng của Kim Dung thịnh hành:

“Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua,
Lắc ba cái ra ba con gà mái…”


“Bầu cua cá cọp” ngày Tết

Miền Nam tiếp xúc với văn hóa Phương Tây rất sớm nên bộ “Bài Tây” 52 cây đă thâm nhập vào các tỉnh phía Nam ngay sau khi người Pháp đặt chân đến Sài G̣n. Người ta làm quen với các con bài mang 4 kư hiệu: ♥ (cơ), ♦ (rô), ♣ (chuồn), ♠ (bích), tượng trưng cho 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trong khi bộ bài có 52 lá để chỉ 52 tuần trong một năm.

Mỗi lá bài c̣n có số in tương ứng với số của quân bài. Riêng lá bài K (King) có h́nh vua được “Việt hóa” là Già; Q (Queen) có h́nh hoàng hậu là Đầm: J (Joker) có h́nh tên hề gọi là Bồi. Riêng lá A (Ace) là X́ hoặc Ách, tương đương với con số 1. Bài Tây có rất nhiều cách chơi khi du nhập Miền Nam, sau 1975 cũng xuất hiện một số thuật ngữ lạ từ Miền Bắc như “tú lơ khơ” để chỉ bộ Bài Tây.

Từ bộ bài 52 cây này người ta có nhiều cách chơi. “X́ tố” hay “x́ phé” (poker) với số người chơi từ 2 đến 6. Đầu tiên sẽ chia 2 lá trong đó có 1 con bài úp xấp để các người chơi “tố” bằng cách đi tiền. Người chơi có thể “theo” hoặc “tố ngược” với số tiền cao hơn ban đầu… ai có con bài lớn nhất sẽ thắng. “Binh xập xám” (Chinese poker) lại cần đủ 4 người chơi, mỗi người 13 cây nên mới gọi theo tiếng Tầu là “xập xám”.

Đó là những món có tính cách sát phạt, ăn thua lớn nhưng trong ngày Tết nhiều gia đ́nh tổ chức những “ṣng” mang ư nghĩa thuần túy của sự giải trí như “các tê” hay “x́ lác”. Ăn thua không là vấn đề quan trọng, nhưng cái chính là ông bà, cha mẹ, con cái được dịp vui chơi trong những ngày xuân.

Một ván “x́ lác” diễn ra rất nhanh v́ mỗi người chỉ được chia có hai cây bài và tính điểm theo các con số trên cây bài. Riêng các lá có h́nh (K, Q, J) được tính là 10 và A có thể tính là 1, hoặc 10. Cao nhất là 21 nút, nếu thấy “chưa đủ tuổi” có thể bốc thêm nhưng coi chừng sẽ bị “oác” khi tổng số điểm vượt quá 21.

Tôi nghĩ “các tê” là môn chơi hấp dẫn hơn v́ đ̣i hỏi người chơi phải biết tính toán cho hợp lư. Mỗi người được chia 6 quân bài, phải tính sao cho ḿnh có ít nhất một cây được ngửa, tức là có “tùng”, mới có quyền “chưng” hai cây cuối. Nếu cứ “thiệp” (úp) hết coi như “tiêu tùng” sẽ bị loại khỏi cuộc chơi!

Giai đoạn “chưng” cũng hồi hộp không kém. Nhiều khi “chưng” cây lớn để dành quyền làm chủ nhưng cây úp lại nhỏ tí mà vẫn thắng. Cũng có khi 2 cây cuối cùng rất lớn nhưng vẫn thua v́ ḿnh không có quyền “chưng”. Mỗi ván bài là cả một cuộc đấu trí vừa hồi hộp vừa vui nhộn trong không khí ngày Tết!

Có người quan niệm đánh bài là để “thử thời vận đầu năm”. Người ta tin vào quy luật “đen t́nh, đỏ bạc” nên có thua bài th́ cũng an ủi sẽ gặp vận hên, chẳng hạn như trong chuyện t́nh cảm lứa đôi.



Bộ bài Tây

Hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 đă đem lại cho Sài G̣n nhiều thú vui ngày Tết mới lạ. Chơi bài tam cúc là một thú vui ngày Tết khá phổ biến trong các gia đ́nh người Bắc di cư.

Bộ bài gồm 32 lá mang h́nh Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mă, Tốt… theo thứ tự của các quân cờ tướng và chia thành hai màu đen và đỏ, trong đó các quân bài màu đỏ có giá trị cao hơn màu đen. Chẳng hạn “tướng bà” đè “tướng ông”, tịnh (tượng) “điều” (đỏ) có quyền “ăn” tịnh đen…

Trong một bộ bài chỉ có hai tướng, tiếp đó các quân khác có một đôi đỏ hoặc đôi đen và 5 con tốt cũng phân thành 2 màu đen-đỏ. Ngôn ngữ trong Tam Cúc rất đặc biệt: “Bộ đôi” là hai quân bài cùng màu, cùng tên như đôi Sĩ điều, đôi Pháo đen... “Bộ ba” gồm ba quân Tướng-Sĩ-Tượng và Xe-Pháo-Mă cùng màu.

Khác với bài Tứ Sắc, các quân bài được chia hết cho tất cả mọi người tham dự chiếu bài. Người làm cái sẽ ra bài đầu tiên và gọi bài: "một cây", "đôi cây" hay "ba cây"... được gọi th́ những người chơi c̣n lại sẽ tương ứng cho ra số cây bài của ḿnh.

Các cây bài được ra với mặt phải (mặt có kư hiệu quân) được giữ kín và úp xuống chiếu bài. Khi mọi người đă ra đầy đủ bài th́ người gọi bài sẽ lật bài đầu tiên rồi theo thứ tự những người bên cạnh, ai có lá bài có giá trị lớn nhất th́ người đó được bài và giành cái. Tuy nhiên, tất cả mọi người được phép “chui” bài bằng cách chịu thua và không lật bài lên để khỏi lộ bài.

“Tứ tử” là bốn quân Tốt cùng màu, nếu ai có sẽ “Tứ tử tŕnh làng” để người khác tự động chui 4 cây bài. Trong trường hợp có đến 5 con Tốt sẽ được quyền “Ngũ tử cướp cái”. Lại có quyền “Đi đêm” với người khác khi gặp những quân bài quá xấu hoặc cần những cây mà ḿnh không có.

Khi cây bài bị thua, người ta dùng thuật ngữ “bị đè”… cho nên nếu giữ lại một cặp tốt đen vào chung cuộc, gọi là “kết”, cũng có thể bị cặp tốt đỏ của đối phương “đè” mà lại c̣n bị “đền”! Trong bối cảnh một ván bài tam cúc, Lê Đ́nh Điểu có bài thơ viết về mùa xuân thật dễ thương của đôi lứa:

“Tốt đỏ mà đè tốt đen
Kết nhất bội nhị làm em phải đền.
Ứ ừ người ta đang đen
Không thèm chơi nữa giả tiền tôi đây.
Ơ ơ bêu chửa cô này
Bị đè c̣n khóc giơ tay đ̣i tiền
Có gan để kết tốt đen
Tất có gan để chịu đền chứ sao?
“Ứ ừ , sao ở trên cao
Người ta thua mất sáu hào hai xu!..”

“Mười năm đi dưới trăng sao
Bây giờ dừng lại (nơi nào đây em?)
Ván bài đời có tốt đen
Trăm lần để kết phải đền cả trăm!

Thơ ngây thua nhẵn mười năm
X̣e tay thấy trắng khóc thầm cả đêm
Ngày xưa em khóc, anh đền
Bây giờ anh khóc ai đền cho anh?

Tam Cúc cũng đă đi vào thơ văn từ hồi tiền chiến. Nhà thơ Hồ Dzếnh tả người t́nh trong bài thơ “Cỗ bài Tam Cúc”:

“Ngày Tết mải chơi tam cúc
Không hay anh tới sau lưng
Ghé lại gần anh mách nước
Kết luôn xe pháo mă hồng.

Ô ván bài em đỏ quá
Đỏ như đôi má ngày xuân
Em có ăn trầu đâu nhỉ?
Mà sao người thấy bâng khuâng…”



Bộ bài Tam Cúc

Hơn 40 năm về trước, “Ly rượu mừng” đă chúc cho một đất nước Việt Nam tự do, thanh b́nh:

“Chúc non sông hoà b́nh, hoà b́nh
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
Đợi anh về trong chén t́nh đầy vơi…”

Nhưng đến nay, những lời chúc đó vẫn chưa trọn vẹn. Một lần nữa, chúng ta cùng nâng ly để chúc cho một Việt Nam với muôn người hạnh phúc chan ḥa:

“Nhấc cao ly này
Hăy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh b́nh
Muôn người hạnh phúc chan hoà

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh b́nh dâng phơi phới”


Nguyen ngoc chinh
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	2.jpg
Views:	0
Size:	79.7 KB
ID:	1339646   Click image for larger version

Name:	235 2 Đế G̣ Đen.jpg
Views:	0
Size:	81.7 KB
ID:	1339647   Click image for larger version

Name:	235 3.jpg
Views:	0
Size:	68.8 KB
ID:	1339648   Click image for larger version

Name:	235 4 2016-01-28 10.10.41.jpg
Views:	0
Size:	86.1 KB
ID:	1339649  

Click image for larger version

Name:	235 5 Bài Tây.jpg
Views:	0
Size:	22.5 KB
ID:	1339650   Click image for larger version

Name:	235 6 Tan cúc.jpg
Views:	0
Size:	101.3 KB
ID:	1339651  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019), nangsom (02-12-2019)
Old 02-15-2019   #46
tbbt
tbbt's Avatar
 
R4 Cao Thủ Vơ Lâm
Join Date: Dec 2009
Posts: 936
Thanks: 29
Thanked 1,442 Times in 614 Posts
Mentioned: 9 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 419 Post(s)
Rep Power: 10
tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5tbbt Reputation Uy Tín Level 5
Reputation: 7765
Default

tbbt_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to tbbt For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019)
Old 02-15-2019   #47
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Đọc Khalil Gibran: The Prophet

Năm 1970 tôi có duyên may nhận được quyển sách “The Prophet” qua chương tŕnh tặng sách của Asia Foundation. Đây là chương tŕnh của một tổ chức văn hóa phi lợi nhuận dành cho quân nhân và công chức trong chính phủ VNCH dưới sự tài trợ của Hoa Kỳ.

Vào thời đó, những người tại miền Nam biết rất ít về chương tŕnh tặng sách này: cứ mỗi sáu tháng, người đọc được Asia Foundation tặng 5 cuốn sách có trong danh mục của thư viện. Đó cũng là lư do tôi được làm quen với Khalil Gibran qua tác phẩm “The Prophet”.

Quyển sách mà tôi được tặng là ấn bản lần thứ 85 của Borzoi Book do nhà xuất bản Alfred A. Knoff in năm 1969. “The Prophet” tương đối mỏng (96 trang) nhưng lại không ít những điều thú vị được rút ra. Cho đến ngày nay, những sách thuộc loại “lời hay ư đẹp” thường xuất hiện nhiều danh ngôn của Khalil Gribran để lại cho đời.


“The Prophet” (1923)

Khalil Gibran sinh ra tại Liban năm 1883, ông là nhà thơ, nhà văn và cũng là một họa sĩ. Trong thế giới Ả Rập, Gibran được coi là “một kẻ nổi loạn trong văn học và chính trị”, riêng tại Liban ông nổi tiếng là một thiên tài văn học. Khi c̣n trẻ ông di cư cùng gia đ́nh đến Boston, Hoa Kỳ. Tại đây, Gibran nghiên cứu nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương của ḿnh.

Khalil Gibran sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Ả Rập. Sự nghiệp văn chương của ông được biết đến trong thế giới nói tiếng Anh qua cuốn sách “The Prophet” năm 1923. Tác phẩm là một loạt bài tiểu luận về triết học được viết rất ngắn bằng một thể loại văn chương mới mẻ: “thơ bằng văn xuôi” (prose poem).



Kahlil Gibran (1883-1931)

“The Prophet” khi mới xuất bản đă gặp nhiều phản ứng trái chiều v́ có khuynh hướng “chống lại nền văn minh của xă hội đương thời”. Cho đến những năm 1930, cuốn sách trở thành một bestseller. Nhiều nhà phê b́nh văn học cho rằng Gibran là tác giả có sách bán chạy vào hàng thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Shakespeare và Lăo Tử.

Đặc biệt trong “The Prophet” có kèm 12 bức tranh do chính Khalil Gibran sáng tác. Chúng tôi sẽ giới thiệu đầy đủ những bức tranh này để minh chứng ngoài khả năng viết và lư luận, ông c̣n có một tài năng về hội họa trừu tượng tuyệt vời.

“The Prophet” đă được dịch sang 40 ngôn ngữ, gần 200 lần tái bản với hơn 100 triệu cuốn. Trong đó số đó có những bản dịch tiếng Việt của nhiều dịch giả từ thời VNCH cho đến ngày nay. Xưa nhất là bản dịch mang tựa đề “Mật Khải” của Phạm Bích Thủy (Sài G̣n, 1969).

Sau năm 1975 c̣n có bản dịch “Nhà Tiên Tri” của Nguyễn Ước hay dịch bằng thơ cũng lấy tựa đề “Mật Khải” của Yên Hồng. Những vần thơ được trích dẫn dưới đây đều trích từ “Mật Khải” của Yên Hồng.



Bản dịch “Mật Khải” của Phạm Bích Thủy (Sài G̣n, 1969)

Bối cảnh của “The Prophet” là buổi chiều chia tay của nhà tiên tri Almustafa với dân thành Orphalese, những người đă chung sống trong yêu thương ông suốt 12 năm. Trước khi lên đường trở về ḥn đảo sinh thành, ông trả lời mọi câu hỏi được những kẻ đưa tiễn đặt ra.

Đó là những vấn đề liên quan tới t́nh yêu và sự chết, lao động và khoái lạc, tự do và của cải, hôn nhân và t́nh bằng hữu, tôn giáo và lề luật… Như đă nói ở trên, sách được viết dưới dạng tiểu luận triết học, không chia thành Chương như thường thấy trong các tác phẩm cổ điển.

Vấn đề đâu tiên được tác giả đề cập đến là T́nh yêu. Kahlil Gibran cho rằng nếu những người đang yêu với nhiều khát vọng th́ hăy ước được thức giấc vào buổi mai với con tim chắp cánh và cảm tạ có thêm một ngày nữa để yêu. Yên Hồng trong “Mật Khải” diễn ư bằng 4 câu thơ:

“Mỗi b́nh minh thức giấc
Nghe ḷng chắp cánh bay
Xin tạ ơn trời đất
Được yêu thêm một ngày”



Để trả lời câu hỏi về Hôn nhân, ngôn sứ Almustafa định nghĩa mối ràng buộc này một cách đơn giản: “Các ngươi sinh ra gần nhau th́ sẽ gần nhau măi măi. Các ngươi sẽ gần nhau cho tới khi đôi cánh trắng của tử thần đến phá nát ngày của ḿnh”. Ư đó được dịch qua 4 câu lục bát:

“Trời sinh ra kiếp vợ chồng
Bên nhau măi măi, một ḷng cùng nhau
Bên nhau cho đến bạc đầu
Đến ngày tang tóc, bể dâu chia ĺa”



Về Con cái, vị ngôn sứ dạy: con cái các ngươi chẳng thuộc về các ngươi… v́ chúng có những khao khát của riêng của bản thân ḿnh. Chúng đến “qua” các ngươi nhưng chẳng “từ” các ngươi (They come through you but not from you). Và dẫu ở cùng các ngươi, chúng chẳng thuộc về các ngươi.

Tư tưởng này thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng nghĩ cho cùng, đó là một thực tế không thể phủ nhận. Người Việt ḿnh có câu “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, h́nh như cũng có điểm tương đồng với ư niệm của Khalil Gribran. Cái mà Gibran gọi là “những khao khát của riêng của bản thân ḿnh” chính là cá tính của từng đứa con.

“Là con cái, cũng chẳng là con cái
Là con ta, cũng chẳng phải con ta
Những đứa trẻ, cả trai lẫn gái
Chúng là con của khát vọng sâu xa”


lmustafa khuyên những người giàu có: “Các ngươi cho rất ít khi đem cho những thứ các ngươi sở hữu. Đem cho chính bản thân, ấy mới thực là cho”. Quả là một quan niệm “cách mạng” về các hoạt động… từ thiện. Xem ra, quan niệm của Gibran về sự trao tặng có phần hơi “cường điệu” v́ mấy ai trên cơi đời này có thể hiến cả mạng sống của minh khi “cho” tha nhân?

“Đem cho của ḿnh có
Thật ít ỏi làm sao!
Đem cho thân mạng ḿnh
Mới là cho đúng nghĩa”


Gibran cũng không quên về chuyện ăn uống hàng ngày. Ông khuyên, khi giết một con thú để làm thức ăn, ta phải nghĩ rằng cùng một quyền năng tiêu diệt, chính bản thân ta cũng sẽ là mục tiêu của sự hủy diệt. Đơn giản chỉ v́ khi luật lệ vào tay ta cũng sẽ giao vào một bàn tay khác, mạnh mẽ hơn!

Tư tưởng của ông bàng bạc chuyện sát sinh mà nhà Phật vẫn thường nói đến. Tại sao người ta ăn chay? Phải chăng v́ không muốn thấy quyền sinh sát của con người với động vật cũng sẽ là quyền hủy diệt của tạo hóa đối với chính con người?

“Khi giết thịt để ăn, ḷng hăy nhủ ḷng
Hỡi con vật đáng thương hôm nay ta giết
Cũng chính sức mạnh này sẽ giết chính ta…”



Công việc, lao động hay cần lao cũng là một đề tài trong “The Prophet”. Phàm con người thường hay phàn nàn về công việc ḿnh làm và cho đó là nỗi bất hạnh của từng cá nhân.

Tuy nhiên, Almustafa lại cho rằng khi làm việc, con người đang hoàn tất một giấc mơ thầm kín nhất có từ khi chào đời. Tiếp tục công việc cần lao có nghĩa là tiếp tục yêu đời.

Ngày xưa, dưới thời Đệ nhất Cộng ḥa, miền Nam có đảng Cần lao – Nhân vị của ông Ngô Đ́nh Nhu, bào đệ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngày nay, người ta cũng thường vinh danh: “Lao động là vinh quang”.

“Cần lao chính là t́nh yêu hiển thị
Nếu ai không mở ḷng tri kỷ với cần lao
Thà đầu đường xó chợ tiêu dao
Nhận bố thí từ những kẻ cần lao hăng hái”



Cũng như triết lư “Tái ông thất mă” của ta, vui đó nhưng cũng buồn đó, khóc và cười cứ nối tiếp, đan xen. Thế cho nên:

“Niềm vui là chính nỗi buồn
Lộ diện chân tướng vở tuồng dấu che
Cùng một giếng nước sau hè
Chứa đầy lệ đắng, múc về niềm vui”


Nhà cửa đối với ngôn sứ chỉ là “những nấm mồ do người chết xây cho người sống” và dù huy hoàng tráng lệ, “nhà cửa sẽ không giữ được bí mật trong việc che đậy những khát vọng trần tục”.

Điều này quá đúng đối với xă hội ngày nay. Những biệt phủ, lâu đài tráng lệ làm sao che đậy được những khát vọng của những người sống trong đó. Họ là ai th́ mọi người bên ngoài đều biết.

“Dù cho tráng lệ nguy nga
Bí ẩn không được cửa nhà dấu che
Những khát vọng, những đam mê
Cửa nhà cũng chẳng bảo kê được ǵ”

Tội ác – Trừng phạt (Crime – Punishment) là một vấn đề gây nhiều tranh căi nếu ta nh́n nó từ góc độ của một triết gia chứ không phải là một phán quan. Almustafa đặt giả định, nếu có ai muốn đem xét xử một người đàn bà ngoại t́nh th́ kẻ ấy hăy đem trái tim của người chồng lên bàn cân và đo lường tinh thần hắn. Ông kêu gọi các phán quan:

“Hỡi phán quan, kẻ mang nặng lời thề:
phải xét xử công bằng liêm chính
Phải tuyên án ǵ cho nững người lương thiện ở bên ngoài
nhưng lại là kẻ cướp ở trong tâm?
Phải tuyên án ǵ cho những kẻ sát nhân
giết người khác, nhưng ḷng ḿnh bị giết?”




Luật lệ và Tự do cũng được đưa vào triết lư sống của Khalil Gibran. Ông cho rằng con người vui thích khi đặt ra luật lệ nhưng chính con người cũng vui hơn khi phá luật lệ. Chẳng khác ǵ tṛ chơi trẻ con thường xây lâu đài trên cát để rồi cười vang khi chính chúng xóa đi.

“Người hân hoan khi bày ra luật lệ
Cũng hân hoan khi xóa số luật ḿnh
Như trẻ thơ xây lâu đài trên cát
Bên biển xanh rồi phá nát, cười vang”

C̣n Tự do? Con người sẽ hoàn hoàn tự do khi ngày không c̣n một nỗi lo âu và đêm không c̣n sầu thảm. Thật ra, cái gọi là Tự do lại là sợi xích chắc chắn nhất trong mọi thứ xiềng xích. Xiềng xích ấy lúc nào cũng lóng lánh làm chóa mắt mọi người!


Almustafa thuyết giảng với dân thành Orphalese về T́nh bạn: “Với bạn bè, thiếu thốn của các ngươi được đáp ứng. Hắn là cánh đồng các ngươi gieo hạt bằng t́nh yêu và gặt hái bằng tri ân. Hắn là bàn ăn và bếp lửa khi các ngươi đói, các ngươi sẽ t́m thấy ở đó sự bằng an”.

“Mỗi khi đói khát đ̣i cơm
Bạn là bếp lửa, mâm cơm trên bàn
Khi ḷng nặng trĩu cưu mang
Bạn là ḍng suối b́nh an ta t́m”

Một thi sĩ thưa: “Xin thầy hăy nói về Cái đẹp”. Almustafa đặt vấn đề làm sao đi t́m được cái đẹp trừ khi Nàng là đường đi và đồng thời là kẻ hướng dẫn. Làm sao có thể nói đến Nàng trừ khi Nàng là kẻ dệt nên những lời nói từ miệng chúng ta?

Kẻ mệt mỏi, nhọc nhằn sẽ nói Cái đẹp là những lời th́ thầm êm ái. Kẻ hiếu động lại cho rằng ta đă từng nghe tiếng Nàng gào thét giữa núi rừng. Ban đêm người lính tuần sẽ nói Nàng sẽ xuất hiện vào b́nh minh đến từ Phương Đông…

Đó là tất cả những điều người ta nói về Cái đẹp. Tuy nhiên, nó không phải là h́nh ảnh con người có thể thấy, cũng không phải là một ca khúc có thể nghe. Vẻ đẹp là sự vĩnh cửu nh́n vào chính ḿnh trong gương.

Khalil Gibran đă từng nói:

“Tôi đến đây để nói một lời và giờ đây tôi sẽ nói. Nhưng nếu cái chết ngăn trở tôi, Ngày Mai sẽ nói lên v́ Ngày Mai không bao giờ nói sai những bí mật trong một cuốn sách Đời Đời”.

Chỉ trong một tác phẩm nhỏ nhoi, “The Prophet”, ông đă nói rất nhiều. Những vấn đề nêu ra ở trên chỉ là một phần những ǵ ông suy nghĩ. Hẹn các bạn vào một dịp khác chúng ta sẽ trở lại với Khalil Gibran để cùng t́m hiểu những ǵ mà “Nhà Tiên Tri” ấp ủ.


ST
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	2 The Prophet.jpg
Views:	0
Size:	60.7 KB
ID:	1341578   Click image for larger version

Name:	1 Khalil Gibran 2.jpg
Views:	0
Size:	29.6 KB
ID:	1341579   Click image for larger version

Name:	3 Mật Khài - Bản dịch của Phạm Bích Thủy (Sài G̣n, 1969).jpg
Views:	0
Size:	50.1 KB
ID:	1341580   Click image for larger version

Name:	4.jpg
Views:	0
Size:	114.9 KB
ID:	1341581  

Click image for larger version

Name:	5.jpg
Views:	0
Size:	95.9 KB
ID:	1341582   Click image for larger version

Name:	6.jpg
Views:	0
Size:	103.2 KB
ID:	1341583   Click image for larger version

Name:	7.jpg
Views:	0
Size:	106.5 KB
ID:	1341584   Click image for larger version

Name:	8.jpg
Views:	0
Size:	96.1 KB
ID:	1341585  

Click image for larger version

Name:	9.jpg
Views:	0
Size:	99.2 KB
ID:	1341586   Click image for larger version

Name:	10.jpg
Views:	0
Size:	102.4 KB
ID:	1341587  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 02-16-2019   #48
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 6,951
Thanks: 4,869
Thanked 9,110 Times in 4,325 Posts
Mentioned: 51 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2858 Post(s)
Rep Power: 16
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34814
Default Ở đâu đó có một nơi tên Sài G̣n







Thưa mấy cô mấy chú, con là 1 đứa nhỏ lớn lên ở Sài G̣n sau 1975, rất nhỏ so với các bác các cô chú ở đây. Mặc dù vậy, niềm yêu thương và t́nh cảm con dành cho vùng đất này không hề nhỏ. Đây là bài con viết cách đây 2 năm, con xin chia sẻ cùng mọi người, để cùng nhau hoài niệm về những tháng ngày tốt đẹp của 1 nơi đă từng rất đẹp.

****

Bữa hổm "trong mùng", gọi chiếc taxi chở mấy đứa nhỏ đi coi xiếc. Anh tài xế hay chuyện, nói tới nói lui 1 hồi anh hỏi em quê ở đâu. Dạ em gốc gác miền Tây nhưng dân Sài G̣n từ trong trứng rồi anh, ảnh cười ờ anh cũng gốc Hoa nè em nhưng cũng thành dân Sài G̣n rặt. Ba điều bốn chuyện ḿnh hỏi anh lái xe vầy nh́n đường sá Sài G̣n riết chắc ngán ngẩm anh ha, ảnh cười cười nói chứ ở riết thương lắm em ơi, giờ em đi đâu cũng vậy hà, em không thương đất lấy ǵ đất nó thương em.

Tự nhiên nh́n lại anh rất khác.

Sài G̣n bây giờ... xấu hơn nhiều, ít nhất là trong mắt những người Sài G̣n xưa hoặc những hoài niệm về vùng đất Gia Định Thành ngày đó. Cái rộn ràng náo nhiệt của Sài G̣n bây giờ bị pha tạp bởi sự ồn ă chói tai. Vẻ đẹp sang chảnh của Sài G̣n bị nhúng chàm bởi những mảng màu diêm dúa thô kệch. Sài G̣n đă dần mất đi nét óng ả nuột nà của ḥn ngọc Viễn đông cách đây chưa lâu. Người hoài niệm Sài G̣n hẳn là buồn.

Thiên hạ nhắc nhau tới Sài G̣n phải cẩn thận của nả, người đâu của đó, coi chừng cướp bóc giật dọc tràn lan ngoài đường. Đường phố Sài G̣n ôi sao mà đông đúc, mà chen lấn, xe cộ ở đây sao không biết nhường nhau, dân Sài G̣n sao mà mánh mung lừa lọc vậy.

Sài G̣n tệ vậy... mà sao Sài G̣n vẫn đông ?

Hôm nọ đọc tản văn của chị Tư* ví von Sài G̣n như một cô vợ bị ruồng rẫy, nhưng vẫn chấp nhận bao dung anh chồng lạc ḷng của ḿnh mỗi khi anh đi ngoại t́nh về, vẫn dịu dàng cơm dẻo canh ngọt giúp anh no ḷng, vẫn giang tay cho anh cơ hội sống tốt ở xứ này... để rồi nhận lấy những lời chê bai đay nghiến so sánh thiệt hơn của anh. Những anh chồng ấy khi hỏi sao không bỏ vợ th́ trơn tuột "thôi ráng giữ gia đ́nh tṛn vẹn cho con", cũng như những người sống ở Sài G̣n nhưng vẫn mang tư tưởng "xứ ǵ mà ồn ào khó sống vậy" khi được hỏi sao không rời chỗ này về quê cho an ổn th́ lại phân vân "thôi, công việc làm ăn ở đây, con cái học hành trên này....sao mà bỏ được". Sài G̣n xấu đi như bây giờ một phần là nhờ những người tham lam như vậy.

Ḿnh chán Sài G̣n không ? Có. Mỗi lần bị nhấn ch́m trong ṿng xoáy ồn ào khói bụi giữa những chiếc xe bất chấp luật lệ bon chen lên trước, hay mỗi lần thấy những anh chị công sở quay đầu khạc nhổ cái xoẹt xuống đường, hoặc mỗi lần đọc tin tệ nạn xă hội ở Sài G̣n lại tăng chóng mặt... ḿnh đều thấy ngao ngán. Ḿnh không sống vào cái thời "ḥn ngọc Viễn đông" để mà có cớ so sánh, nhưng ḿnh có đọc những bài viết về người Sài G̣n hào sảng, chân t́nh và hồn hậu; ḿnh có xem những tấm ảnh chụp nhịp sống thường nhật hồi ấy; ḿnh nh́n thấy vẻ thư thái tự tại trên gương mặt của người dân Sài G̣n thời đó. Biết rồi tiếc thôi.

Nhưng ḿnh vẫn yêu Sài G̣n lắm. Thuở nhỏ là niềm háo hức đi chợ hoa Nguyễn Huệ lúc giáp Tết, là sự ngỡ ngàng mỗi lần đi chợ Cũ ngó "hàng tàu viễn dương", là niềm ao ước mỗi khi đi Tạ Thu Thâu coi đồ đẹp. Lớn chút nữa, những kư ức về lễ hội "300 năm Sài G̣n" vẫn khắc sâu lắm. Rồi những kem Bạch Đằng, phở Tàu Bay, chè Hiển Khánh.... C̣n nhiều nữa những con đường Sài G̣n in dấu chân ḿnh đi qua, những góc nhỏ Sài G̣n chứng kiến t́nh cảm non tơ của ḿnh ngày đang lớn. Nhớ vậy, để biết trái tim ḿnh thuộc về Sài G̣n.

Có những ai đă đi xa Sài G̣n, nuối tiếc thời quá văng mà lên tiếng gièm pha chê bai Sài G̣n của-bây-giờ, cũng không trách họ được. Chỉ thương Sài G̣n vẫn lặng lẽ chịu đựng, luôn cố gắng gồng gánh sức nặng cơm áo gạo tiền cho bao nhiêu người, và phải cố gắng gấp đôi thế để bao dung hết thảy những lời bỉ bôi. Vậy cho nên, những ai đang ở đất Sài G̣n, kiếm sống từ đất Sài G̣n....xin hăy thương lấy vùng đất này bằng cách đừng làm nó xấu thêm bằng chính những hành động của ḿnh.

Có lẽ măi măi sẽ chẳng thể trở lại vị thế ḥn ngọc viễn đông như trước kia nữa, chỉ hy vọng Sài G̣n đừng biến thành mảnh vỡ thủy tinh le lói dưới ánh mặt trời.

Người Sài G̣n sẽ đau lắm, biết không ?


by Michou Pham
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	114012baoxaydung_image007.jpg
Views:	0
Size:	75.0 KB
ID:	1341943   Click image for larger version

Name:	album_kulnews_dsc-0515.jpg
Views:	0
Size:	192.3 KB
ID:	1341944   Click image for larger version

Name:	redsvn-saigon-1970-jerry-bosworth-03.jpg
Views:	0
Size:	118.7 KB
ID:	1341945  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019)
Old 02-19-2019   #49
wonderful
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Jun 2011
Posts: 5,845
Thanks: 5,184
Thanked 14,435 Times in 4,926 Posts
Mentioned: 37 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 1861 Post(s)
Rep Power: 16
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 41475
Default

Vài h́nh ảnh chụp có thể gây hiểu lầm


wonderful_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to wonderful For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019)
Old 02-21-2019   #50
wonderful
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Jun 2011
Posts: 5,845
Thanks: 5,184
Thanked 14,435 Times in 4,926 Posts
Mentioned: 37 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 1861 Post(s)
Rep Power: 16
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 41475
Default

Nước bốc cháy

Theo các nguồn tin th́ các khoa học gia khắp thế giới đang chuẩn bị đổ về Việt Nam để t́m hiểu và nghiên cứu một nguồn năng lượng mới rất rẻ tiền nhưng lại có khả năng thay thế xăng. Đó là… nước giếng. Theo tin trong nước th́ bà con nông dân tại xă Hương Trạch, Hà Tĩnh khi kéo nước giếng để giặt giũ, nấu ăn như bao năm nay th́ thấy nước giếng có mùi… dầu lửa. Khi thử châm lửa th́ nước bốc cháy phừng phực như… xăng. Tin tức về loại nước giếng này lan truyền nhanh chóng, khi một số người mê tín tin rằng đó là nước… (!) của ông địa. C̣n có người th́ hào hứng bảo rằng nước giếng Hương Trạch có thể thay xăng, làm nguồn năng lượng mới hay xuất cảng thu ngoại tệ. Chỉ có một “già làng” thông thái th́ bảo, “Con bà nó, cái này là mấy hầm chứa xăng của mấy công ty khai thác bị bể nên mới lan vào nước giếng và có mùi xăng dầu như vậy”. Quả nhiên đúng là vậy.




Tại nó lộn

Đôi tuần trước cả nước Mỹ vỗ tay hoan nghinh nữ phi công Tammy Jo Shults của Southwest Airlines, người hùng đă cứu mạng hàng trăm hành khách khi hạ cánh an toàn chiếc phi cơ bị hỏng máy. Tuần qua th́ phi công Việt Nam được “vỗ chân” khi máy bay không hư và thời tiết không xấu nhưng cũng hạ cánh… thiếu an toàn, mém làm 200 hành khách mất mạng. Chuyến bay VN7344 của hăng Hàng Không Việt Nam từ Tân Sơn Nhất bay đi Cam Ranh trong lúc một giờ trưa ngày 30 tháng 4 vừa qua, đến Cam Ranh không biết phi hành đoàn đang đánh phé hay làm ǵ, c̣n nhân viên không lưu đang ngủ trưa hay nhậu chưa biết và nhân viên mặt đất của phi trường c̣n đang bận chôm hành lư của khách hay sao (nhà chức trách đang c̣n điều tra) mà phi cơ không hạ cánh xuống phi đạo, lại hạ cánh xuống… công trường xây dựng kế bên. May mà không đụng xe cẩu, vật liệu sắt thép… Theo điều tra ban đầu th́ lỗi là… phi đạo (nằm không đúng chỗ). Lộn thôi mà!

Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	(((((((((med.jpg
Views:	0
Size:	95.2 KB
ID:	1346571   Click image for larger version

Name:	(((((((((fcc6.jpg
Views:	0
Size:	4.3 KB
ID:	1346573  

Last edited by wonderful; 02-25-2019 at 21:03.
wonderful_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to wonderful For This Useful Post:
cha12 ba (02-21-2019), hoanglan22 (02-21-2019)
Reply
Page 5 of 16 « First 34 5 6715 Last »

User Tag List

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On


 
iPad Tablet Menu

Announcement

Breaking News

Society News

VietOversea

World News

Business News

Other News

History

Car News

Computer News

Game News

USA News

Mobile News

Music News

Movies News

Sport News

Stranger Stories

Comedy Stories

Cooking Chat

Nice Pictures

Fashion

School

Travelling

Funny Videos


Page generated in 0.21856 seconds with 13 queries