News Library Technology Giải Trí Portals Tin Sốt Home

Go Back   VietBF > Other News|Tin Khác > School | Kiến thức

Số bài trả lời (Reply's) : 851   -   Số người đă xem (Viewers) : 9073
 
Thread Tools
 
Old  Default Topic April 30-1975 Stories
Click image for larger version

Name:	425_1_nho-mot-cau-nhin-chin-cau-lanh-nguoi-viet-se-khong-hung-du.jpg
Views:	0
Size:	27.4 KB
ID:	1365590  
Nhớ 'một câu nhịn chín câu lành', người Việt sẽ không hung dữ

Hơn nhau không phải ở nắm đấm mà là ở khả năng học tập, làm việc, chia sẻ, thương yêu, tử tế với ḿnh, với người trong mối quan hệ với cuộc sống xung quanh!




Hạ cẳng tay, thượng cẳng chân sau khi va chạm giao thông - Ảnh do bạn đọc cung cấp

Cách đây mấy bữa, trên đường đi làm về, tôi thấy một đám đông ở Hàng Xanh (Q.B́nh Thạnh, TP.HCM), nghĩ là có kẹt xe. Tới gần mới phát hiện là vừa có vụ va quẹt và hai tài xế đang căi nhau, người đi đường ngang qua ai cũng lắc đầu.

Chuyện va quẹt trên phố đông như Sài G̣n giờ tan tầm là chuyện cơm bữa, nếu cảm thông và chia sẻ được th́ có lẽ người ta sẽ nhẹ nhàng cho qua, tôi nghĩ vậy!

Môi trường nhiều mầm mống bạo lực

Thường người ta sẽ nổi nóng khi gặp một chuyện bất như ư nào đó, như vừa bị sếp la, ra cổng cơ quan bảo vệ đùa một câu, liền sân si. Nỗi buồn, sự bực bội là thứ năng lượng chi phối hành xử khiến người ta không thể kiềm chế được cơn tức dâng lên, lây sang người khác.

V́ vậy, có người dễ nổi nóng đă cảnh báo: "Thấy tôi ‘khó ở’ là tránh xa xa giùm, không ăn mắng ráng chịu". Theo đó, người nóng lâu ngày họ cũng biết tính khí của ḿnh nên có "chống chỉ định" chuyện nói đùa, tiếp xúc lúc họ đang không vui, căng thẳng. Thực ra, khi quá mệt mỏi, phiền muộn trong ḷng, ta không c̣n giữ được ḿnh.

Có người bạn của tôi b́nh thường hiền queo, ai nói ǵ cũng cười. Bỗng một ngày, tôi hỏi "sao buồn dữ rứa?" lại bị bạn nạt cho một câu nghe chưng hửng. Trời, bạn ḿnh đây sao? Mới đầu tôi phản ứng vậy, nhưng chợt dừng lại v́ nhớ ra, đây không phải là bản chất của bạn. Có thể bạn đang có một nỗi niềm, áp lực từ cuộc sống, gia đ́nh, t́nh yêu hoặc bản thân đang trải qua bệnh tật, sự cố…

Ai cũng có lúc nóng giận, nếu ḿnh hiểu th́ sẽ không khiến ngọn lửa trong họ cháy phừng. Tôi im lặng và không bỏ mặc, cuối cùng cũng nghe được thổ lộ từ bạn. Bạn bị nhiều áp lực trong công việc: sếp chèn ép, đồng nghiệp t́m cách chơi khăm, lương không cao, phải chật vật trang trải cuộc sống…

Tất nhiên, nhiều người khó khăn hơn nhưng họ không nổi nóng. Đó là tính cách và sức chịu đựng của từng người. Sự nóng tính là một thói quen được huấn tập hằng ngày theo nguyên lư:

"Thói quen tạo nên tính cách, tính cách tạo nên số phận".

V́ thế, các chuyên gia tâm lư khi chia sẻ với tôi về thói vũ phu của chồng vẫn thường lưu ư, có thể anh ấy từng bị bạo hành lúc nhỏ, từng sống gần những gia đ́nh lớn tiếng, ồn ào đánh căi nhau như cơm bữa.

Sự tác động của cuộc sống xung quanh lên tính cách con người theo hướng đó được ông bà xưa đúc kết rằng "gần mực th́ đen". Cái đen đó cần có thời gian thanh lọc để dần trắng, nhưng nếu vẫn tiếp tục nuôi dưỡng trong môi trường đen hơn th́ sẽ đen đậm hơn.



Ngày nay các văn hóa phẩm mang tính bạo lực vẫn đầy rẫy trên mạng và tồn tại trong cuộc sống, giải trí của nhiều người: từ game online đến phim ảnh. Thường ngày tiếp xúc với sự đánh đấm, máu me trong các "thức ăn tinh thần" đó khiến năo quen với những "mùi vị" của bạo lực, từ đó hành xử theo.

Những kẻ "giang hồ mạng" được ngưỡng mộ và thu tiền trăm triệu cũng chính là một "h́nh tượng" khiến người ta thay đổi suy nghĩ: cần ǵ học hành, tử tế, chỉ cần có "số má" là có thể lên đời.

Môi trường bên ngoài đă vậy, trong nhà trường, gia đ́nh cũng đầy mầm mống bạo lực, tránh sao người trẻ không hoang mang và hành xử theo cách tương tự. Đây mới là điều đáng lo, và người lớn muốn thay đổi không khí bạo lực lan tràn th́ chính bản thân phải nỗ lực để ứng xử nhẹ nhàng với nhau trước.

Nhẫn để yêu thương

Không thể có kết cục tốt với những người nóng nảy. Nhân vật Trương Phi trong Tam Quốc Chí là h́nh mẫu của nóng tính dẫn đến hư sự và mang họa sát thân. Ai cũng nóng nảy trong hành xử th́ chiến tranh sẽ nổ ra, thương vong là tất yếu.

Một câu nói đùa cũng thành chuyện lớn v́ con người ta quá nóng, quá hung dữ; đi nhậu lo hát karaoke cũng bị đánh chết th́… ôi thôi, cuộc sống quá kinh khủng. Pháp luật cần nghiêm minh để trừng trị việc vô cớ đánh, giết người nhưng đó là xử lư phần ngọn, c̣n cái gốc vẫn là giáo dục.

Làm sao để con người có thể chậm lại để phân tích kỹ hơn từng câu nói, từng biểu hiện của người khác, trong đó có thân nhân, bạn bè ḿnh để không chụp mũ rồi hành xử như người điên, người say?

Sống thiền hay b́nh tĩnh sống, sống chậm, sống có chánh niệm… là những cách sống theo tinh thần "nhẫn để yêu thương". Đầu tiên là thương ḿnh. Một người chỉ được người khác tin tưởng, nể trọng và giao việc khi có sự chín chắn, điềm tĩnh trong xử lư. Như vậy, người sống có lư trí, điềm tĩnh chính là cách sống lợi lạc tự thân.

C̣n cái lợi cho người xung quanh, nhất là người thân - thương th́ cũng dễ dàng để thấy. Con cái sẽ học được nhiều điều hay ho từ bố mẹ có cách sống nhẹ nhàng, t́nh cảm. Đó mới là gia tài quư giá để lại cho con.

Hành xử nóng tính dẫn tới hư việc, hại người th́ ṿng lao lư chờ ḿnh là chắc chắn. Một khi đă gây ra sự cố mới hối th́ đâu c̣n kịp. Nhiều người b́nh luận thiếu niên 16 tuổi rút dao đâm chết người nhắc ḿnh chuyện chạy xe chính là "anh hùng rơm", chứng tỏ với bạn gái nhưng rồi được ǵ sau lần ra tay đó? Tù tội và có thể mất luôn bạn gái.

Ai đợi và ai chấp nhận một người giết người làm người yêu, người chồng, người cha tương lai?

Thực ra, sân si - ai cũng có. Cái chính là cách quản lư năng lương tiêu cực đó để những năng lượng tích cực phát triển. Để làm được điều đó, phải xây dựng lối sống nhân văn từ chính mỗi gia đ́nh, người lớn dạy trẻ nhẫn nhịn để an lành như ông bà ḿnh nhắc "một câu nhịn chín câu lành".


Nguồn: Báo Tuổi trẻ Online


florida80
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
florida80's Avatar
Release: 04-14-2019
Reputation: 82794


Profile:
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Last Update: None Rating: None
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	425_1_nho-mot-cau-nhin-chin-cau-lanh-nguoi-viet-se-khong-hung-du.jpg
Views:	0
Size:	27.4 KB
ID:	1365590  
florida80_is_offline
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62 florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
The Following 2 Users Say Thank You to florida80 For This Useful Post:
Kevin1 (05-12-2019), Vietnamese (04-15-2019)
Old 3 Weeks Ago   #551
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Cái Gọi Là “Ngày Thống Nhất“ - BS Trần Văn Tích









Sư đoàn 3 Việt cộng cấp giấy ra trại cho tôi ngày 14.02.1978. Tôi được tạm trú tại Thành Hồ ba tháng và bị quản chế sáu tháng. Vào thời điểm này, Việt cộng đă có chủ trương thống nhất cho giới y khoa mà chúng rất cần. Công an Phường nơi tôi trú ngụ yêu cầu tôi phải đến Sở Y Tế Thành Hồ nộp đơn xin việc ngay và ngày 02.05.1978 tôi chính thức đi làm việc với Việt cộng. Lẽ ra tôi phải đi làm từ đầu tháng năm nhưng v́ ngày 01.05 là ngày lễ nên tôi chỉ tŕnh diện cơ quan mới vào ngày 02.05. Ngày 30.04 năm 1978 đó qua đi trên toàn Thành Hồ mà không có ǵ đặc biệt cả, đó là một ngày như mọi ngày; cho nên một tên tù mới được thả như tôi th́ nằm nhà c̣n vợ tôi v́ được lưu dụng th́ đi dạy như thường lệ.


Chúng tôi rời Việt Nam ngày 24.01.1984. Trong sáu năm đi làm với Việt cộng(từ 1978 đến 1984) có tất cả sáu ngày 30.04 trôi qua một cách b́nh thường và hai vợ chồng tôi không hề được nghỉ. Không biết từ bao giờ Việt cộng quyết định xem ngày 30.04 hằng năm là một ngày lễ và cho phép dân chúng nghỉ lễ cùng một lúc hai ngày liền, “Ngày Thống Nhất“ 30.04 và Ngày Lễ Lao động 01.05.




Đối chọi với Ngày Quốc Hận?










Sự kiện chúng ta kiên tŕ giữ vững Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà khiến ViXi rất tức tối nhưng chúng không làm ǵ được. Vơ Văn Kiệt đă nói rơ là nếu người tỵ nạn Việt Nam không sử dụng lá cờ nền vàng ba sọc đỏ nữa th́ bên chúng nó và phía chúng ta sẽ dễ nói chuyện với nhau hơn.




Cùng với Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà, chúng ta có tên gọi “Ngày Quốc Hận“, một cách gọi khiến chúng rất căm ghét. Đến một thời điểm nào đó, chúng nhận ra rằng phải có biện pháp chống-chống cộng qua một tên gọi chính thức pháp định và từ đó, chúng làm giấy khai sinh cho ngày 30.04 với tên gọi “Ngày Thống Nhất“ đồng thời đi tiếp bước thứ hai là xem đó là một ngày nghỉ lễ. Đó là hành động của kẻ thù nhằm ứng phó với chủ trương của chúng ta cương quyết kiên tŕ xem ngày 30.04 là ngày di hận ngàn đời cho dân tộc Việt Nam.




Phần chúng ta, thiết nghĩ chúng ta phải biết sử dụng hữu hiệu và khôn khéo vị thuốc khử độc là danh xưng “Ngày Quốc Hận“. Chúng ta không nên dùng tên gọi nào khác, cho dù là v́ bất cứ lư do ǵ và do nguyên nhân nào. Chống lại cách gọi “Ngày Quốc Hận“ giặc phải nghĩ ra nguỵ danh “Ngày Thống Nhất“. Chúng ta đă ở thế thượng phong, chúng ta đă đẩy kẻ thù vào thế bị động, chúng ta đă bắt chúng phải t́m biện pháp ứng phó; chúng ta đừng vô h́nh trung rời khỏi vị thế áp đảo đă đạt được.




Tất nhiên những kẻ đối kháng với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản phải phủ nhận cung cách gọi tên của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Ông Cù Huy Hà Vũ bảo Ngày 30.04 là “Ngày Thống Nhất“, đó là quyền của ông ta và cũng là “nhăn hiệu cầu chứng“ của ông ta. Vĩnh viễn ông Cù Huy Hà Vũ không bao giờ hoà đồng được vào tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản.




Lịch sử hậu Quốc Hận








Cứ mỗi lần Ngày Quốc Hận trở về th́ chúng ta lại nhắc lại quá khứ; đó là nghĩa vụ, nghĩa vụ không được quên. Nhưng chúng ta cũng nên nghĩ đến hiện tại. Chúng ta chưa có một bộ sử của “Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà Hải ngoại“.




Bộ sử sẽ bắt đầu từ Ngày Quốc Hận 30.04.1975 với bức h́nh nổi tiếng của các anh chị em sinh viên quốc gia đầu chít khăn tang rước lá đại kỳ diễn hành trên đường phố Paris. Bộ sử sẽ tŕnh bày các dữ kiện liên quan đến chính sách man rợ và đểu cáng của giặc cộng đối với dân chúng Miền Nam, sẽ mô tả bức tranh bi hùng của người Miền Nam vào tù ra tội và vượt biên vượt biển. Bộ sử sẽ ghi nhận các thành công của thế hệ thứ nhất, thứ hai trên những mảnh đất xa lạ. Có biết bao nhiêu điều cần ghi lại và nếu chúng ta không chịu ghi lại th́ ai ghi cho bây giờ? Nói hoài nói măi làm chi chuyện quá khứ mà không chịu nói chuyện ngày nay? Chúng ta có những ng̣i bút viết sử vững vàng : Trần Gia Phụng, Phạm Cao Dương, Nguyễn Thế Anh, Lâm Văn Bé. Nên chăng đă đến lúc phải hướng ng̣i bút vào mục tiêu biên soạn một bộ sách tổng hợp có hệ thống những diễn biến lịch sử liên quan đến cộng đồng ba bốn triệu người Việt lưu vong sau 30.04.75?




Nước Đức có Ngày Thống Nhất, Tag der Deutschen Einheit, ngày 03.10. Luật pháp Đức xem đó là một ngày nghỉ lễ chính thức trên toàn lănh thổ cộng hoà liên bang. Nước Đức không có ngày nào là ngày quốc hận cả. Số mệnh hai dân tộc Việt và Đức đă được an bài theo hai cách khác nhau nhưng không phải v́ vậy mà chúng ta thừa nhận một cái ngày được gọi là thống nhất một cách giả dối tráo trở.




Quốc Hận là một khái niệm văn hoá-chính trị-xă hội trong từ vựng quốc ngữ. Tuy nhiên các từ điển, tự điển đơn ngữ Việt-Việt không hề có mục từ nào ghi khái niệm này. Không hề có mặt trong tài liệu tham khảo nhưng đă hai lần khái niệm Ngày Quốc Hận lưu truyền rộng răi trong ngôn ngữ dân gian nhằm chỉ ngày 20.07 và ngày 30.04. Trong khi đó cộng đồng Nga lưu vong trước đây, cộng đồng người Tàu Đài Loan cũng như cộng đồng người Cuba đang sinh sống tại nước ngoài hiện nay không có Ngày Quốc Hận.




Ba chữ “Ngày Quốc Hận“ là một kháng thể rất hữu hiệu, một thứ thuốc giải độc rất mạnh chống lại chủ thuyết và chế độ cộng sản trên b́nh diện lư luận, thuộc ư thức chính trị.




02.05.2019

BS. Trần Văn Tích



at 12:49 AM
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #552
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Tháng Tư, Cười Hay Khóc - Trần Mai Trung (Danlambao)









Tháng Tư năm 1975, người Việt Nam phía Bắc chiến thắng người Việt Nam phía Nam. Người phương Bắc vui vẻ. Người phương Nam buồn rầu, nhưng tự an ủi là từ nay có hòa bình, anh em VN không còn bắn giết nhau.





Trong chiến tranh 1954-1975, phía Bắc không nói nhiều về hòa bình, hô hào dù phải đốt cháy cả dăy Trường Sơn cũng tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Phía Nam thì nói nhiều về hòa bình, có lẽ vì chiến tranh diễn ra tại miền Nam, tàn phá chết chóc nhiều quá. Một số thanh niên “lý tưởng” ở miền Nam còn mơ mộng nối vòng tay lớn với người anh em phía bên kia, họ đâu biết là người CS sẽ không bắt tay với tình anh em bạn bè, đảng CS chỉ muốn lãnh đạo và ra lệnh.




Hòa bình đến khi một bên thắng và một bên thua, cuộc sum họp không có tình anh em chút nào. Hai tháng sau, hơn 200 ngàn người anh em miền Nam bị người anh em miền Bắc đưa vào các trại cải tạo tập trung, tức là tù lao động khổ sai. Nhiều người bị giam 5 đến 10 năm, nhiều người đã chết ở đó, có người bị giam đến 17 năm. Cuộc chiến đã chấm dứt, người CS vẫn đi theo đánh người ngã ngựa.




Hòa bình là điều mong ước của người dân miền Nam, nhưng với bên thắng cuộc thì nó chỉ là một chặng đường. Cuộc chiến Bắc-Nam vừa xong, họ nhìn sang Kampuchea, Thái Lan, họ muốn các nước xung quanh là cộng sản giống họ, đảng CS muốn nhân dân VN tiếp tục làm người lính tiên phong đi đánh nhau cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. ĐCSVN sẳn sàng đi vào cuộc chiến mới.




Đảng CS xem nhân dân là vật sở hửu của mình, phải làm những gì đảng muốn. Đảng CS áp đặt chế độ độc tài đảng trị, độc quyền tuyên truyền, âm mưu biến người dân thành người máy, chỉ biết có đảng và bác, quên đi cha mẹ, ông bà, tổ tiên Việt Nam.




Không chịu nổi sự cai trị độc tài của đảng CS, hơn 2 triệu người VN đã đau lòng rời quê hương đi tị nạn ở các nước khác, hàng trăm ngàn người đã chết trên biển, nhiều người bị hải tặc Thái Lan tấn công, thật kinh hoàng. Trong lúc hiểm nguy đó, những người da trắng không quen biết, khác màu da tiếng nói, đã đến cứu giúp người tị nạn. Còn lãnh đạo đảng CSVN, Thủ tướng Phạm văn Đồng thì đi nói xấu người tị nạn VN là trộm cướp, đĩ điếm. Ông ta là hình ảnh tiêu biểu của người cộng sản nhỏ nhen.




Tháng Tư lại về, bạn cười hay bạn khóc? Có người bên thắng cuộc đang cười vì họ đã chiến thắng, mặc dù cái giá phải trả là hàng trăm ngàn thanh niên miền Bắc phải đi đánh nhau và chết ở miền Nam. Bạn bè, đồng chí, đồng bào bị chết rất nhiều mà lại cười, đó là cái cười vô liêm sĩ. Có người bên thắng cuộc đang khóc, 100 ngàn thiếu nữ miền Bắc đi Thanh niên xung phong, ở trong rừng mấy năm dài, 10 ngàn TNXP đã chết trong rừng, người trở về được thì mang bệnh tật và sống cô đơn vì tuổi xuân thì đã qua.




Bên thua cuộc thì buồn hơn, ngày “giải phóng” cũng là ngày 200 ngàn người đi vào tù, người Việt Nam bị phân biệt làm nhiều hạng khác nhau. Đang sống bình thường thì bây giờ thiếu ăn, đang có tự do thì bây giờ phải nói theo ý đảng. Nếp sống đạo đức bị phá tan hoang, thay thế bằng giáo điều cộng sản. Người tị nạn VN thì mang nỗi buồn xa xứ, ngày 30 tháng Tư là lý do phải rời quê hương, là một ngày buồn.




V́ ấu trĩ, thờ ơ, u tối

V́ muốn an thân, v́ tiếc máu xương

Cả nước đă quy về một mối

Một mối hận thù, một mối đau thương!

Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường

Đảng tới là tan nát cả!

Thơ Nguyễn Chí Thiện
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #553
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Sinh Tử Luân Hồi
Toàn Không







Luân Hồi dịch từ chữ Samera của chữ Phạn. Chữ Hán, Luân là bánh xe, Hồi là xoay lại, trở về, trở lại; Sinh Tử Luân Hồi là sinh ra già bệnh chết rồi lại sinh ra già bệnh chết, tái diễn nhiều lần. Theo Phật giáo, con người sinh ra từ vô thủy (thỉ) đến giờ đă trải qua vô lượng đời, và sẽ c̣n tiếp nối vô số đời nữa ở tương lai cho đến vô chung. Con người sinh ra chết đi cứ triền miên như thế, nhưng không phải chỉ sinh trong loài người mà tùy nghiệp đă tạo ra trong suốt thời gian sống theo đó mà sinh vào một trong sáu cảnh giới, gọi là sáu cơi.

I). Các quan điểm về sinh tử:

Có bốn quan điểm:

1). Quan điểm chấp đoạn:

Người có quan điểm này cho rằng con người sinh ra là ngẫu nhiên, tự nhiên như thế, có hợp có sinh, mọi việc ở đời chỉ là may rủi, gặp may có vui, gặp rủi phải buồn. Khi già bệnh phải chết là lẽ tự nhiên, khi chết là hết chẳng c̣n ǵ nữa, sự may rủi cũng theo cái chết mà không c̣n ǵ nữa; thân xác thành cát bụi, hư vô, không c̣n một tí ǵ cả.

Theo quan điểm “chấp đoạn”, con người sống chỉ nghĩ đến hưởng thụ cho mau, nên đưa đến t́nh trạng dành giật, không cần biết tới b́nh đẳng, đạo đức, tôn ty; đây là quan điểm có tính cách buông xuôi, không phải quan điểm của những người trí tuệ, mà giống như cách đối xử hạ đẳng của các loài vật. Bởi v́ con người ngoài phần thể xác, c̣n có phần tinh thần, nên bảo rằng chết là hết th́ không đúng, tại sao? V́ phần tinh thần nó vô h́nh vô tướng, mắt người thường không thể thấy được, nên tưởng rằng không có ǵ cả, nhưng đối với các bậc Giác ngộ, các vị biết thấy rơ phần tinh thần này.

2)- Quan điểm chấp thường:

Người có quan điểm này cho rằng khi con người chết rồi, phần thể xác tan ră, c̣n có phần tinh thần bất hoại, tinh thần này là vĩnh cửu trường tồn không bao giờ mất được. Họ quan niệm phần tinh thần này là một “linh hồn” bất diệt trường tồn vĩnh viễn, và có một trong hai nơi họ được đến hay phải đến; đó là lên Thiên đàng hưởng thọ khoái lạc vĩnh viễn, hay xuống Hỏa ngục chịu thiêu đốt đời đời không có ngày ra.

Theo quan điểm “chấp thường”, có người nói: “Quan điểm này quá thô sơ, qúa đơn giản, không ăn khớp với những ǵ diễn biến trong vũ trụ; v́ hết thảy vũ trụ vạn vật không có cái ǵ là vĩnh cửu trường tồn được, không có một nơi nào trong vũ trụ không thay đổi, mọi sự đều đổi thay, kể cả cái chúng ta tạm gọi là linh hồn. Hơn nữa, con người chỉ sống một thời gian ngắn ngủi dù là 100 năm, khi chết đi lại được ở trên Thiên đường hưởng lạc thú đời đời, hoặc xuống hỏa ngục chịu cực h́nh khổ năo vĩnh viễn không có ngày ra; thật là bất công phi lư giữa hai sự sống ấy, chỉ bởi một điều nhỏ là tin hay không tin mà như vậy!” Nên họ c̣n nói: “Đây là sự đặt ra một phần thưởng quá to lớn và một h́nh phạt khủng khiếp để con người ham khoái hưởng lạc và sợ hăi khổ sở mà phải tin theo v́ tưởng rằng có lợi, chứ sự thực không đúng như thế”.

3)- Quan điểm có tính cách khoa học:

a)- Về vật chất: Theo quan điểm này có nhiều sự việc khoa học đă nh́n thấy tính cách luân hồi của nó, sau đây là một vài thí dụ:

1- Nước luân hồi: Nước luân hồi rất dễ nhận ra, đó là nước sông, hồ, biển dưới sức nóng của mặt trời làm nước bốc hơi bay lên thành mây, mây có nhiều hơi nước gặp lạnh tụ lại thành nước, nước nặng rơi xuống thành mưa. Nếu khí hậu lạnh dưới 0 độ bách phân (Centigrade) hay dưới 32 độ Farenheit, nước mưa đông thành cục gọi là mưa nước đá. Ở vùng Bắc cực hoặc Nam cực, mặt trời ít chiếu tới nên nước thường đông thành băng; c̣n những vùng khác, khi mưa nước từ đồi núi chảy xuống suối, rạch, hồ, sông rồi ra biển, từ các chỗ này nước lại bốc hơi thành mây, mây thành mưa, cứ thế nước luân hồi măi.

2- Khí hậu luân hồi: Qủa đất mỗi ngày tự quay như con quay một ṿng, nên chúng ta có ban ngày khi chúng ta hướng về phiá mặt trời, và có ban đêm khi trái đất quay phiá bên kia của quả đất hướng về phiá mặt trời, như vùng Đông Á châu ban ngày th́ vùng châu Mỹ ban đêm và ngược lại vùng châu Mỹ buổi trưa th́ vùng Đông Á châu nửa đêm. Qủa đất c̣n chạy chung quanh mặt trời trong 365 ngày hết một ṿng, đó là một năm. Sự quay chạy của trái đất theo qũy đạo của nó, làm thành bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ở vùng xa Xích đạo, và hai mùa Nắng Mưa ở nơi gần Xích đạo, xoay vần không dứt, luân hồi mỗi năm một lần. Tất cả muôn vật trên qủa đại cầu này đều bị ảnh hưởng bởi khí hậu bốn mùa hay hai mùa thay đổi, đây là luân hồi của khí hậu.

3- Luân hồi của hệ thống tuần hoàn: Trong cơ thể con người, qủa tim ví như đầu tầu xe lửa kéo cả đoàn tầu, trái tim cũng vậy, nếu tim ngừng đập bóp, con người sẽ chết. Qủa tim có bốn ngăn, hai ngăn trên gọi là tâm nhĩ (atrium), hai ngăn dưới gọi là tâm thất (ventricle). Do sức bóp của tim, máu trong tâm thất bên trái (left ventricle) bơm vào động mạch (aorta) dẫn đi khắp toàn thân vào các mạch máu nhỏ đến các bộ phận, cơ quan của thân thể để nuôi các tế bào. Rồi máu từ đó theo hệ thống tĩnh mạch (veins) trở về tim vào tâm nhĩ bên phải (right atrium). Máu từ tâm nhĩ bên phải đi qua một cái van (valve) xuống tâm thất bên phải (right ventricle), rồi ra động mạch phổi (pulmonary artery) vào phổi để lấy dưỡng khí (oxygen). Máu từ phổi trở lại tim bằng tĩnh mạch phổi (pulmonary vein) vào tâm nhĩ bên trái (left atrium), xong máu từ đây qua một cái van xuống tâm thất bên trái (left ventricle), và từ đây, tâm thất bóp để đấy máu đi nuôi cơ thể; máu đi đi, về về liên tục không ngưng nghỉ như thế, đây gọi là luân hồi của máu.

b)- Về tinh thần: Như trên, khoa học đă nh́n thấy nhiều sự vật có tính cách luân hồi, chứng minh một cách cụ thể hiển nhiên, nhưng về vấn đề tinh thần , khoa học c̣n đang trên đường t́m kiếm. Thường mỗi khi có người nhớ được tiền kiếp, các nhà khoa học lại có dịp truy cứu; đây cũng chỉ là những góp nhặt vụn vặt, nên các nhà khoa học chưa dám khẳng định một cách tích cực toàn diện, v́ về tâm linh vô h́nh vô tướng nên không thấy cụ thể bằng con mắt phàm phu được. Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu ra một số phát biểu nổi tiếng của một số danh nhân Tây phương về vấn này như sau:

1- Pythagore (hơn 550 năm trước Dương lịch): Nhà toán học kiêm triết học người Hy Lạp (Greece) nói rằng: “Tất cả mọi người đều có linh hồn, quanh quẩn trong thế gian hữu cơ và diễn biến theo định luật trường cửu”.

2- Platon (427 – 347 BC): Nhà triết học Hy Lạp nói: “Linh hồn thọ hơn thể xác, linh hồn liên tục sinh ra rồi tái sinh trở lại thế gian”.

3- Ovid (43 BC – 17 AD): Nhà thơ người tại thành Rome (Ư) nói: “Cái gọi là chết, chỉ gọi là vật chất cũ, c̣n linh hồn bị đẩy đưa từ nơi này đến nơi khác, linh hồn chỉ là một, chỉ có h́nh thể mới, như ta thay áo mới. Cũng như loại sáp mềm người ta đổ vào khuôn, mặt sáp sẽ ghi nhận cái khuôn, lúc ấy h́nh ảnh cũ bị xóa bỏ, chỉ có h́nh thức bị biến đổi, sáp vẫn là sáp; như vậy, được sinh ra là bắt đầu trở thành một cái ǵ mới, khác cái trước, và những h́nh thức mới ấy cũng biến đổi nữa, không có cái ǵ giữ nguyên vẹn h́nh thể mà không thay đổi h́nh dạng”.

4- Wordsworth (William) (1770 – 1850): Nhà thơ người Anh quốc nói: “Cái sinh của chúng ta chỉ là một giấc chiêm bao và một sự lăng quên. Linh hồn, v́ tinh tú của đời sống, xuất hiện với ta hôm nay, đă có cơ sở ở một nơi nào và đến từ phương xa: Không phải trọn vẹn trong sự lăng quên, cũng không phải trơ trọi”.

5- Disraeli (Benjamin) (1804 – 1881): Thủ tướng Anh Quốc nổi tiếng một thời nói: “Không có hệ thống nào vừa giản dị, vừa ít va chạm sự hiểu biết của ta bằng thuyết luân hồi. Thuyết ấy xem những đau khổ và khoái lạc trong kiếp sống này như sự thưởng hay phạt các hành động của ta trong một trạng thái khác”.

6- Emerson (Ralph Waldo) (1803 – 1882): Triết gia kiêm nhà thơ người Hoa Kỳ nói: “Cái định mạng mà chúng ta phải lănh là do chính ta đă chuẩn bị một cách hồn nhiên, vô ư thức, trong rất nhiều kinh nghiệm mà ta không thấy nổi giá trị; có lẽ chúng ta c̣n tiếp tục nhận lănh định mạng ấy trong nhiều kiếp nữa, trước khi hoàn tất công việc trả qủa”.

7- Huxley (Thomas Henry) (1825 – 1895): Nhà sinh vật học (Biology) kiêm nhà văn người Anh Quốc nói: “. . . Bên trong đứa trẻ sơ sinh đă có ngủ ngầm đặc điểm truyền thống, và cái “ta” chỉ là một khối năng lực tiềm tàng, thêm vào chút ǵ khác; những tiềm năng ấy rất sớm nổi lên mặt và trở thành sức mạnh thật sự, một thực lực, từ tuổi trẻ trở lên, biểu hiện lúc lu mờ lúc sáng tỏ, lúc yếu lúc mạnh, lúc đúng đắn lúc sai lầm. Và mỗi lần đổi sang từ thể xác này đến một xác thân khác, th́ tâm tánh riêng biệt ấy lại bị một tâm tính khác biến đổi.

Những triết học gia Ấn Độ gọi cái “Tánh” đồng nghĩa với nghiệp (Karma), chính cái nghiệp chuyển từ đời này đến đời khác và nối liền các kiếp sống trong một chuỗi dài những kiếp chuyển sinh; các triết gia ấy chủ trương trong mỗi kiếp sống, cái nghiệp bị biến đổi, không những do truyền thống mà c̣n do chính hành động của ḿnh”.

4). Quan điểm của Phật giáo:

Đúng lư ra, sinh tử luân hồi gắn liền với nghiệp báo nhân qủa, v́ con người từ khi sinh ra đến lúc chết đều có tạo nghiệp, do đó mỗi người đều mang theo cái nghiệp của ḿnh. Để hiểu rơ vấn đề, chúng ta lần lượt phân tích:

Con người gồm hai phần thể chất và tinh thần, từ khi bắt đầu có sự phối hợp giữa tinh cha trứng mẹ hợp lại về phần vật chất, cộng với phần tinh thần gọi là thần thức hay nghiệp thức. Bào thai phải có đủ phần vật chất (sắc) và tinh thần (thức) mới đủ điều kiện để thành h́nh và lớn mạnh được.

Ở trong bào thai lớn dần phát triển đủ các bộ phận, trong đó có các bộ phận: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, gọi là sáu căn. Khi đủ ngày tháng được “sinh” ra, lớn dần lên, sáu căn tiếp “xúc” sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; khi tiếp xúc với ngoại cảnh nếu yêu thích sinh thọ vui, nếu không thích sinh thọ buồn, hoặc tiếp xúc với cái không yêu không ghét có thọ không vui không buồn. Sự yêu ghét gọi là “ái ố”, v́ có ái ố nên cố giữ cái yêu thích, t́m cách để có cái yêu thích, quyết dẹp bỏ tránh né cái không ưa, đó gọi là “thủ, bỏ”. V́ hành động cố giữ và cố dẹp bỏ ấy mà tạo nghiệp, khi chết thần thức phải mang theo để thọ sinh một đời sống khác kế tiếp.

Cứ thế sinh ra sống tạo nghiệp già bệnh chết, rồi lại như thế măi măi, không có ngày chấm dứt; ngoại trừ người có tu hành đắc đạo mới thoát ra ngoài ṿng sinh tử luân hồi, v́ nghiệp thức dẫn đi đầu thai, nên tùy nghiệp lành hay nghiệp dữ mà phải vào một trong sáu cơi. Do đó, chúng ta cũng nên t́m hiểu sơ qua để biết thêm tạo nghiệp ǵ sinh vào cơi nào như sau:

1- Sinh cơi Trời: Người nào làm mười điều thiện gồm ba điều về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; bốn điều về miệng: Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói đâm thọc, không nói ác; và ba điều về ư: Không tham lam, không sân giận, không si mê tà kiến. Sinh lên ở cơi Trời có đời sống vô cùng sung sướng, không phải làm việc, lại có đời sống rất lâu dài.

2- Sinh lại cơi Người: Người nào làm được năm giới (Ngũ giới) không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Muốn sinh lại cơi Người, ráng thực hành như thế. Khi tái sinh lại làm người được ở chỗ giàu sang quyền qúy sung sướng, manh khỏe, sống lâu.

3 - Sinh cơi Thần (A Tu La): Người có ḷng tốt, có thực thi mười điều thiện, tạo nhiều phúc đức, nhưng tính sân hận giận thù chưa bỏ được, nên khi chết đi vào cơi Thần, có đời sống dài, khá sung sướng, nhưng có sự tranh căi, gây bất ḥa, đấu tranh nên cũng có phiền toái.

4- Sinh cơi Ngạ qủy: Người bỏn sẻn, đố kỵ, ghen tỵ, mưu mô cướp đoạt của người, trộm cắp v.v… Khi chết sinh vào Ngạ qủy, có nhiều loại Ma qủy khác nhau, có loại phụ với các vị Thần để làm việc cho chư Thiên, có loại phải canh cổng thành cơi Trời v.v..., loài Ngạ qủy thường bị đói và sống luẩn quẩn cùng với loài người và súc sinh, nhưng vô h́nh nên ta không thấy.

5- Sinh Súc sanh: Người dâm dục ngang trái, người quỵt nợ, giật hụi, lừa đảo, biển thủ tiền của, người đánh đập hành hạ giết hại súc vật, người sớm tối say sưa rượu hoặc ma túy, người tăng thượng mạn v.v.. Khi chết sinh vào loài Súc sinh bị khổ sở trăm bề mà ai cũng thấy.

6- Sinh Địa ngục: Người giết cha giết mẹ, người làm mười điều ác chắc chắn đọa điạ ngục nhanh như liệng mũi kiếm thẳng xuống nước ngay sau khi chết, ở địa ngục thời gian lâu dài chịu cực h́nh khốn khổ trăm bề; khi ra khỏi địa ngục, lại phải vào Ngạ qủy hoặc Súc sinh, khi trở lại làm người có đời sống nghèo hèn khổ sở.

II). Kết luận về sinh tử luân hồi.

Trong các Kinh đức Phật nói rất nhiều về các kiếp của Ngài và nhiều người khác, nếu chúng ta đọc Kinh sách của Phật giáo sẽ thấy chuyện tái sinh rất nhiều; Bác Sĩ Edgar Casey tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà nhiều người đă biết. Ông chuyên bắt mạch định bệnh bằng thiền định và dùng mắt thần để nh́n các kiếp trước của bệnh nhân, mà người ta gọi là dùng “thôi miên” để nh́n xem người bệnh đă trải qua các kiếp trước như thế nào để định bệnh cho bệnh nhân và chữa trị trong mấy chục ngh́n trường hợp, mà hiện hồ sơ c̣n được lưu giữ.

Theo dơi báo chí thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy nêu lên chuyện có người nhớ được tiền kiếp của ḿnh, chuyện các vị Lạt Ma Tây Tạng tái sinh nhớ được đời trước cả đến các vật dụng của ḿnh; thiết tưởng chuyện tái sinh hầu như trên thế giới ngày nay coi như chuyện b́nh thường, không c̣n mấy người thắc mắc nữa.

Schopenhauer (Arthur) (1788–1860): Nhà toán học kiêm triết học người Đức nói về luân hồi như sau:

“Ta thấy rằng lư thuyết luân hồi khởi xuất từ thuở sơ khai, trong thời kỳ vàng son của nhân loại, luôn luôn lan rộng trong nhân gian, được coi là tín ngưỡng của phần lớn mà cũng là giáo lư của tất cả tôn giáo; ngoại trừ tín ngưỡng của người Do Thái và hai tôn giáo xuất xứ từ h́nh thức thật tế nhị của tín ngưỡng ấy ( Hồi giáo và Cơ Đốc giáo).

Các thuyết luân hồi đă biến chuyển đến rất gần chân lư mà Phật giáo đề cập, như vậy, trong lúc Cơ Đốc giáo tự an ủi với ư tưởng sẽ tự gặp trở lại trong một thế gian khác, trong thế gian ấy sẽ t́m lại trọn vẹn nhân cách của ḿnh, và cũng sẽ tự nhận ra tức khắc, th́ theo các tôn giáo khác, sự gặp gỡ trở lại đă diễn tiến nhiều lần, nhưng ta không nhận thức được. Trong những kiếp tái sinh liên tục tái diễn, những người đă có liên quan mật thiết hoặc có tiếp xúc ngay với nhau sẽ gặp lại trong một kiếp sống vị lai, cũng lại có sự liên hệ với nhau hoặc y hệt, hoặc tương tự, và những t́nh cảm, thiện hay ác, đối với nhau như trong kiếp sống nàỵ . . .

Cũng như đă ghi chú trong Kinh Phệ Đà (Ấn Độ giáo) và tất cả các kinh sách khác ở Ấn Độ, thuyết luân hồi được xem là nền tảng Bà La Môn giáo và Phật giáo; cho đến nay, phần lớn các dân tộc Á Đông không phải Hồi giáo, hơn phân nửa nhân loại, vẫn tin tưởng chắc chắn thuyết luân hồi và đời sống thực tế hàng ngày vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết này. Đó cũng là tín ngưỡng của người Ai Cập và từ Ai Cập, Orphée, Pythgore và Platon đă nhiệt liệt nhận lănh.Theo như trên, sự tin tưởng nơi thuyết luân hồi tự nó là niềm tin qủa quyết tự nhiên của con người mỗi khi nghĩ đến vấn đề này mà không bị ám ảnh trước . .”.


(Trích trong “The World As Will And Idea”)

Toàn Không
29/01/2014
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #554
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Khái niệm thời gian trong Phật giáo




Chỉ có sát-na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hăy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm. Làm được như thế th́ trong tương lai, nhiều điều tuyệt vời, đầy hứa hẹn sẽ đến với chúng ta...

Dẫn nhập

“Sự vô thường, tuổi già và bệnh tật không bao giờ hứa hẹn với chúng ta. Chúng có thể đến bất cứ lúc nào mà không một lời báo trước. Bởi v́ cuộc sống là vô thường, nên chúng ta không biết chắc rằng chúng ta có c̣n sống ở sát-na kế tiếp hay không. Nếu một tai nạn xảy đến, chúng ta sẽ biến mất khỏi thế giới này ngay tức khắc. Mạng sống của chúng ta ví như hạt sương đọng lại trên đầu ngọn cỏ trong buổi sáng mùa xuân. Nó sẽ bị tan biến ngay khi ánh mặt trời ló dạng. Những ư niệm của chúng ta thay đổi rất nhanh trong từng sát-na. Thời gian rất ngắn ngủi. Nó chỉ kéo dài trong một sát-na (kṣaṇa), giống như hơi thở. Nếu chúng ta thở vào mà không thở ra, chúng ta sẽ chết”. Đấy là bài học học đầu tiên mà tôi học được từ thầy của ḿnh cách đây 39 năm, vào cái ngày đầu tiên sau khi tôi trở thành một chú tiểu.

Những thông điệp mà tôi học được từ bài học này nhắc nhở rằng, tôi phải thực tập lời Phật dạy một cách nghiêm túc. Tôi không nên để thời gian trôi qua một cách vô ích mà không làm điều ǵ có ư nghĩa. Suốt 39 năm qua, tôi đă nhọc công đi t́m ư nghĩa của cuộc sống của chính tôi. Tôi luôn luôn tự hỏi:

“Phải chăng tôi có sự sống?”, “Mạng sống của tôi sẽ kéo dài được bao lâu?”, “Phải chăng mạng sống của tôi chỉ kéo dài trong một sát-na ngắn ngủi, hay là kéo dài hàng trăm năm với sự tiếp nối của một ḍng chảy từ sát-na này đến sát-na khác?”.

Cuộc đời là đau khổ. Chắc chắn vậy, không c̣n nghi ngờ ǵ về điều này. Sự sống là đau khổ v́ mọi thứ đều vô thường. Đây là sự thật đầu tiên trong Tứ diệu đế. Phải chăng tất cả chúng sanh đều khổ đau kể từ ngày đầu tiên của cuộc đời cho đến những hơi thở cuối cùng?

Chúng ta có thể thoát khỏi sự khổ đau này ngay bây giờ được không, hay phải đợi đến kiếp khác, hoặc đợi đến ngày chúng ta trở thành bậc Giác ngộ như Đức Phật? Trong quá tŕnh tu tập theo đạo Phật, chúng ta có thể có được một đời sống ư nghĩa hay không, hay chỉ là sự vật lộn để t́m kiếm ư nghĩa của cuộc sống? Phải chăng cuộc sống chỉ có ư nghĩa trong trạng thái tâm thức hoặc ở cơ thể vật lư mà thôi? Chúng ta có thể tách biệt trạng thái tâm thức và cơ thể vật lư của ḿnh để có được một đời sống hạnh phúc hay không?

Trong đạo Phật, tôi tin là những câu hỏi như thế không có ǵ mới. Trong quá khứ, đặc biệt là trong buổi b́nh minh của đạo Phật, Đức Phật đă giải thích khái niệm thời gian như thế nào, và các vị đệ tử của Ngài đă hiểu thời gian ra sao? Sau khi Ngài giác ngộ, ư nghĩa cuộc sống của Đức Phật là ǵ? Chúng ta có thể noi gương Đức Phật trong đời này hay không? Để t́m ra ư nghĩa của cuộc sống, tôi cần phải quay lại t́m hiểu những học thuyết về thời gian đă được giải thích trong kinh điển thời kỳ đầu của Phật giáo Nguyên thủy cho đến giai đoạn phát triển mạnh nhất của Phật giáo Đại thừa. Trong bài viết này, tôi khảo sát về khái niệm thời gian trong đạo Phật, để từ đó t́m ra ư nghĩa của cuộc sống.


“Thời gian” trong Phật giáo Nguyên thủy(1)


Ngay sau khi giác ngộ, giáo lư đầu tiên mà Đức Phật Thích Ca thuyết giảng là giáo lư Tứ diệu đế. Khỏi cần phải nói, tất cả chúng ta đều biết chân lư đầu tiên trong bốn chân lư này là “Cuộc sống là khổ đau”. Sở dĩ như thế là v́ tất cả mọi thứ đều vô thường (anitya). Mọi pháp (dharma) đều do duyên mà sinh khởi, chúng được kết hợp bởi các yếu tố khác nhau. Tất cả các pháp đều có bốn đặc tính, đó là: thành (jāti), trụ (sthiti), hoại (jarā), vô thường (anitya). Theo ngài Thế Thân th́ bốn đặc tính này là những đặc tính cơ bản của vạn pháp. Bốn đặc tính này đă đưa đến sự phát sinh tất cả các luận thuyết của Phật giáo Nguyên thủy.

Khái niệm thời gian được diễn tả trong trường phái Phật giáo Nguyên thủy bằng thuật ngữ ‘samaya’, bao hàm cả ư nghĩa về ‘điều kiện’ và ‘thời gian’. Trong số nhiều luận giải, luận giải đề cập thường xuyên nhất đến vấn đề thời gian là quyển chú giải về bộ Pháp tụ (Dhammasaṅgani) của ngài Buddhaghosa (Phật Đà Da Xá). Ở đấy, khái niệm ‘samaya’ được chia làm 5 loại(2) như sau:

1. Kāla (thời gian): Miêu tả sự tiếp nối của một hoàn cảnh, như thể là thời gian của sự lạnh lẽo hay sự đau ốm… Từ này lại được phân ra làm 9 loại:
a. Sát-na tâm (citta-kara);
b. Pháp (dhamma) của các sinh vật, kư ức của pháp, c̣n có thể hiểu là pháp ở trong quá khứ, hiện tại và vị lai;
c. Quá tŕnh thứ lớp (dhammapatti) của mọi sự vật hiện tượng, ví dụ như thời gian khi những hạt giống nảy mầm;
d. Sự xuất hiện của mọi thứ (dhamma-lakkhaṇa), ví dụ như thời gian được sinh ra hay là thời gian của tuổi già;
e. Thời gian của sự nhận lănh (dhammakicca);
f. Hành động của con người (sattakicca), ví dụ như thời gian tắm rửa hoặc ăn cơm;
g. Những h́nh thái của sự vận động (iriyāpatha), ví dụ như đi, đứng, nằm, ngồi;
h. Những diễn tiến của các hiện tượng tự nhiên (candimāsuriyādi, parivattana), ví dụ như diễn tiến của buổi sáng, buổi chiều hay là buổi tối và sự tiến triển của một ngày;
i. Những sự phân chia thời gian (kālasaṅdaya), ví dụ như nửa tháng, một tháng, một năm.

2. Samūla (nhóm): Một nhóm trong ư nghĩa của sự tích tụ của pháp (dhamma-puñja), chẳng hạn như cảm giác, được dùng để từ chối ư niệm của một thực thể cá nhân. Học thuyết nhân quả trong Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại nhờ vào nhân, duyên, quả. Loại này được hướng đến việc chống lại quan điểm sai lầm rằng, một thứ có thể sinh khởi độc lập với những thứ khác, v́ thế nó chứng minh cho sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các pháp.

3. Hetu (nguyên nhân): Nói lên sự phụ thuộc lẫn nhau của mọi hiện hữu, ví dụ như để nh́n được th́ nhăn thức phải hội đủ điều kiện.

4. Khaṇa (tính nhất thời): Đề cập đến sự kết nối tâm thức từ quá khứ đến hiện tại và chỉ nói đến tâm thiện chứ không nói đến tâm bất thiện. Khi tính nhất thời đang trôi chảy liên tục từ sát-na này đến sát-na khác trong quá khứ, rất khó để nắm bắt sát-na ấy. Chính tâm của con người được xem là tồn tại mang tính nhất thời. Tính nhất thời rất khó nắm bắt, cho nên để cho cái tâm nhất thời ấy khởi lên và giữ được sự tĩnh tại th́ không phải dễ. Loại ‘khaṇa’ này nói đến đạo đức của Phật giáo, bởi v́ tính nhất thời được xem là chỉ liên hệ với tâm thiện. Nguyên tắc đạo đức là dùng sát-na trong việc thực hành những hạt giống thiện.

5. Samavāya (sự kết hợp): Đề cập đến sự ḥa hợp trong các duyên (paccaya-sāmaggī) và có chủ đích là để chứng minh rằng tâm thức có sự kết hợp lẫn nhau trong hiện tại. Nói cách khác, nó chỉ ra rằng thời gian là phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau (aññamaṇṇ‘upekkhā). Thời gian được chỉ cho thấy không có thực thể và không có sự hiện hữu của Đấng Tạo hóa.

Chúng ta nên biết rằng, mọi thứ đều vô thường v́ chúng đều tồn tại trong thời gian hạn cuộc. Sự tồn tại giới hạn này được đề cập đến trong Phật giáo Nguyên thủy như là một sát-na (kṣaṇa). Hơn nữa, hầu hết các trường phái của đạo Phật đă sớm giải thích sự thay đổi của mọi thứ như là sự tiếp nối của những trạng thái nhất thời (kṣaṇika).Nguồn gốc của khái niệm này dĩ nhiên được t́m thấy chân lư mà nó đă được chấp nhận bởi một số trường phái Phật giáo và cũng được t́m thấy bên ngoài đạo Phật, chân lư này cho rằng hai điều kiện tâm lư không thể cùng tồn tại trong một ư niệm, bởi v́ phạm vi của ư thức là duy nhất(3). V́ thế mà hầu hết những trường phái Phật giáo ở thời kỳ đầu, chẳng hạn như phái Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin), Hóa địa bộ (Mahīśāsaka), Kinh lượng bộ (Kāśyapiva), Độc tử bộ (Vāsīputria), Tây sơn trụ bộ (Pūrvaśaila) và Đông sơn trụ bộ (Apasaśaila) luôn cho rằng tất cả mọi thứ đều giả tạm. Khi tất cả mọi thứ hợp lại đều là vô thường, Đông sơn trụ bộ cho rằng, tất cả mọi thứ đều chỉ kéo dài trong một sát-na của ư niệm (ekacitakkahaṇika), bởi v́ chúng đều vô thường. Có ǵ khác nhau giữa một thứ nhanh chóng bị phá hủy và một thứ khác tồn tại trong thời gian dài?(4) Trước khi đưa ra bất kỳ ư niệm nào về câu hỏi này, tôi đưa ra một định nghĩa về từ ‘sát-na’ của một vài trường phái Phật giáo thời kỳ đầu.


“Thời gian” trong Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidharmakośa)


Khoảng thời gian của sát-na là ǵ? Điều này đă đề cập đến trong đoạn trước rằng, sát-na là một chốc lát đơn lẻ của ư niệm (ekacitakkahaṇika). Nhưng ư niệm đơn lẻ này có thể được đo lường là bao lâu? Chúng ta có thể dùng một khoảng thời gian rất nhỏ là ‘giây’ để đo lường sát-na. Ông Louis de la Vallée Poussin, khi nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này, đă diễn tả rằng:

“Trong Phật giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát-na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. V́ thế, để có được khoảng thời gian chính xác của một sát-na, chúng ta cần so sánh khoảng thời gian của nó với khoảng thời gian của một giây. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ th́ 120 kṣaṇa (sát-na) = 1 tatkṣaṇa, 60 tatkṣaṇa = 1 lava, 30 lava = 1 muhūrta. V́ thế, 1 kṣaṇa = 0,013333 giây.(5)

Hơn nữa, sát-na(kṣaṇa) được tŕnh bày trong Śārdūlakarṇa có hơi khác: 16 mimeṣas = 1 kāṣthā, 16 kāṣthās = 1 kalā, 64 kalās = 1 muhūrta. Trong Manu, 18 mimeṣa = 1 kāṣthā, 30 kāṣthās = 1 kala, 30 kalas = 1 muhūrta. Những sự đo lường này có một vài khác biệt trong một số trường phái như Puranas, Kautiliya và Bhasakara. Họ đưa ra: 100 truṭis = 1 tatpara, 30 tatparas = 1 nimeṣa, 18 nimeṣas = 1 kāṣthā. Theo Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá, có 65 sát-na (kṣaṇa) trong khoảng thời gian một người lực sĩ khỏe mạnh khảy ngón tay.(6)


Sự đo lường của sát-na theo kinh Lượng bộ


Ngài Thế Thân đă đề cập đến trong Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá rằng: Nếu các duyên hội đủ (pratyaya) thời gian cần thiết để một pháp (dharma) sinh khởi, hay nói đúng hơn, thời gian để cho một pháp (dharma) diễn tiến từ một nguyên tử này (paramāṇu) đến một nguyên tử khác (paramāṇu) (7), ngài Thế Thân đă đưa ra một định nghĩa khác về sát-na, đó là: “Sát-na, hay là chốc lát, là khoảng thời gian mà những đặc tính đạt được sự hoạt dụng của nó”(8).

Tuy nhiên, Thuyết nhất thiết hữu bộ xây dựng học thuyết của họ dựa trên một sự khảo xét khác, và sự khảo xét ấy được xem là gần với giáo lư của đạo Phật hơn. Họ cho rằng, cùng một người không thể nào trong cùng một lúc mà vừa hoàn thành một hành động (karma-nghiệp) vừa nhận kết quả mà hành động ấy đưa đến (vipākaphala), khi một hành động là một thứ thuộc về tương lai, và khi đương sự nhận lấy kết quả từ một hành động gây ra trong quá khứ. V́ thế, nếu những thứ thuộc quá khứ và tương lai không tồn tại, những hành động trong quá khứ cũng không hiện hữu, không thể tạo ra quả. Có lẽ phải thú nhận sự táo bạo của tư tưởng này, trong trường hợp này họ đă rất khéo léo. Bởi v́ đạo Phật không chấp nhận tất cả những thực thể cá nhân, giống như “ātman” (ngă) ở trong Áo nghĩa thư (Upaniṣads) và “jīva” (linh hồn bất tử) của đạo Ni Kiền Tử, có thể hoạt động như là sự hỗ trợ cho cấu trúc của sự đáp trả về những hành vi đă tạo.(9)

Những trường phái khác không chấp nhận học thuyết về tính giả tạm của mọi sự vật, hiện tượng. Trong số đó, phái Thượng tọa bộ (Theravādin) chú ư đến sự thật rằng đại địa, đại dương, vua của tất cả những ngọn núi, nước, lửa, gió, cỏ, rừng núi, cây cối kéo dài lâu hơn một sát-na đơn lẻ của ư niệm.(10) Thật ra đây là một sự khảo xét khách quan của Thượng tọa bộ về khoảng cách của thời gian. Họ chỉ xem xét đến khía cạnh bên ngoài của sự vật mà không chú ư đến những thuộc tính bên trong sự vận hành của các sự vật.

Đối với kinh Lượng bộ (Sautrāntika) và Thí dụ bộ (Dārṣṭānika), học thuyết của họ mềm dẻo hơn, họ đă tiếp cận những điều khó khăn này một cách khéo léo. Về phía Thí dụ bộ th́ khẳng định chắc chắn rằng, những nét đặc trưng của những phức hợp không phải là những thực thể (dravya) v́ chúng được bao gồm ở trong những phức hợp bị tách rời ra của ư thức (cittaviprayuktasaṃskāra), ví dụ như những khái niệm trừu tượng không có thực chất bên trong.(11) Hơn nữa, theo họ th́ sát-na là sự trống rỗng của ba thuộc tính: sinh khởi, hủy hoại và chấm dứt, bởi v́ nó sở hữu chúng, nó phải được sinh ra, bị hủy hoại và chấm dứt tất cả cùng một lúc, điều này rơ ràng là không thể được.(12)

Kinh lượng bộ (Sautrāntika) th́ nhận ra đặc tính về khoảng thời gian (sthiti), nhưng cũng như Thượng tọa bộ, chỉ là sự cải biến về điều đó mà thôi (sthityanythātva).(13) Trong những học thuyết của họ có một lượng nhất định về thuyết tiến hóa, đối nghịch với tính cấp thời thuần túy của phái Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin). Xu hướng này lại được t́m thấy trong Thành duy thức luận (Vijñaptimātratāsiddhi), theo đó th́ những đặc tính ấy có thể không chỉ là một sát-na mà c̣n là một duyên kéo dài nhất định.(14) V́ thế, dường như họ đă điều chỉnh quan điểm này từ sự kết hợp giữa ư tưởng của Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin), những người cho rằng những đặc tính là tương ứng với sát-na, và ư tưởng đối nghịch của Chánh lượng bộ (Sammatīya), cho rằng những đặc tính ấy tương ứng với một duyên kéo dài(15). Thật ra th́ dường như Thí dụ bộ (Dārṣṭānika), trường phái đă đem lại giá trị thật cho sát-na, ví dụ như sự thật của khoảng thời gian, cũng là những người thuộc thuyết tiến hóa. Họ giữ quan điểm đối lập với Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin), rằng những sự vật sinh khởi dần dần chứ không phải cùng một lúc(16).

Tuy nhiên, những học thuyết của các trường phái ấy đều có chung một đặc điểm, đó là khó hiểu, nhưng lại có vẻ mâu thuẫn với học thuyết trước đây, khi nó cho rằng không có một sát-na chính xác của sự sinh khởi, cũng không có sát-na chính xác của sự chấm dứt; v́ thế, trong trường hợp của những phức hợp, chỉ có hai lần mà ở đấy chúng chưa được sinh ra, và ở đấy chúng đă được sinh ra, hoặc là ở đấy chúng chưa chấm dứt, và ở đấy chúng đă được chấm dứt(17).

Chỉ có hai trường phái mà sự phán đoán của họ về bản chất của sát-na làm cho chúng tôi yên tâm, đấy là Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin) và Thí dụ bộ (Dārṣṭānika), v́ họ giữ những quan điểm hoàn toàn đối lập nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin) th́ thiếu thận trọng khi lấy chủ nghĩa sát-na triệt để làm một trong những nền tảng cho học thuyết của họ, điều này đă đưa đến việc giới thiệu quá nhiều yếu tố trong sát-na, sự nâng lên, sự dày lên, sự nặng lên của một nguyên tử của thời gian với tất cả những tiềm năng của nó, tính hiệu quả của khoảng thời gian. Như là một sự phản ứng đối với điều này, Thí dụ bộ (Dārṣṭānika) đưa ra vế trước của một phương tŕnh (sát-na = 0), rồi bị kẹt cứng vào nó, không chịu nh́n thấy thứ ǵ khác ở trong sát-na, ngoại trừ sự vô dụng của nó, và điều này đă kéo họ trở lại với quan điểm tiến hóa, một quan điểm có tính chính thống hơn và phổ thông hơn.(18)


“Thời gian” được diễn tả như là: Quá khứ, hiện tại và tương lai


Một trong những triết gia Ấn Độ đă diễn tả khái niệm thời gian qua quá khứ, hiện tại và tương lai là Buddhadeva. Mặc dù vậy, chúng ta không thể tiếp cận với những công tŕnh nghiên cứu của ông qua ngôn ngữ Sanskrit hoặc tiếng Hoa, hay những bản dịch tiếng Tây Tạng, mà chỉ có thể tham khảo trong Luận Tỳ bà sa (Vibhāṣā)(19). Đoạn văn sau được trích từ Luận Tỳ bà sa (Vibhāṣā) sẽ cho chúng ta thấy quan điểm thời gian của Buddhadeva:

“Một pháp (dharma) lưu chuyển trong ba thời gian, đó là quá khứ, hiện tại và tương lai, và nó phụ thuộc lẫn nhau từ những sát-na trước đến sát-na sau. Giống như cùng một người phụ nữ mà khi th́ được gọi là “mẹ”, khi th́ gọi là “con gái”. Do vậy, với sự liên hệ đến trước và sau, khi có thứ ǵ đó là trước so với một pháp (dharma) nhưng không có ǵ phía sau nó th́ đấy là pháp (dharma) thuộc về tương lai, khi có cả trước và sau, th́ đấy là pháp thuộc hiện tại, và khi có một thứ ǵ đó đằng sau nhưng không có ở trước th́ pháp đó thuộc về quá khứ”.
Những quan điểm về thời gian của Buddhadeva ở đây được tŕnh bày hơi khác so với trong A-tỳ-đạt-ma Đăng luận(Abhidharmadīpa) và trong Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidahrmakośa). A-tỳ-đạt-ma Đăng luận cho rằng, một pháp lưu chuyển trong ba thời gian, gọi là một pháp hoặc một pháp khác phụ thuộc vào trước hoặc sau. Pháp này không tùy thuộc vào sự thay đổi của duyên hoặc của bản chất cốt yếu. Cũng giống như một người phụ nữ được gọi là mẹ hay con gái là tùy thuộc vào trước và sau.(20) Trong lời luận bàn của Yośamitra về Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidahrmakośa) th́ ghi rằng, thời gian được gọi tên bởi sự phụ thuộc lẫn nhau vào trước và sau. Điều này có nghĩa là thời gian được gọi là hiện tại, tương lai và quá khứ như là kết quả của sự phụ thuộc vào trước và sau. Nó được gọi là tương lai trong sự phụ thuộc vào sự thật rằng hiện tại và quá khứ ở trước nó. Nó được gọi là hiện tại v́ phụ thuộc vào sự thật rằng quá khứ ở phía trước và tương lai ở phía sau. Và nó được gọi là quá khứ v́ phụ thuộc vào sự thật rằng hiện tại hay tương lai đều đến sau(21).

Cuối cùng, theo Buddhadeva, quá khứ, tương lai và hiện tại là dựa vào các mối liên hệ (anyonya) với cả hai phía, cùng một thứ là quá khứ trong mối liên hệ với những ǵ đi theo sau nó, và tương lai trong mối liên hệ với những ǵ đă diễn ra trước nó. Như chúng ta có thể thấy, bản thân quá khứ, hiện tại và tương lai không được Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādin) xem như là những vật, mà là những phương thức của sự tồn tại, là những trạng thái, những thuộc tính, vị thế, những mối liên hệ tương hỗ(22).

Xuyên suốt lịch sử triết học Ấn Độ, Buddhadeva được những người theo Thuyết nhất thiết hữu bộ trích dẫn chỉ để bác bỏ học thuyết thô thiển của Vasumitra(23).


“Thời gian” được diễn tả trong Trung luận của ngài Long Thọ


Trong Trung luận (Mādhy-amika), ngài Long Thọ (Nāgārjuna) không dùng các thuật ngữ quá khứ, hiện tại, tương lai để khảo xét về ba thời. Thay v́ vậy, Ngài dùng 3 mối liên hệ thời gian, đó là ‘sớm hơn’, ‘muộn hơn’ và ‘cùng lúc với’. Quả thực Ngài cố gắng diễn tả rằng, sản phẩm của những thứ cụ thể là không thể có, bởi v́ nó không thể xuất hiện trong bất cứ phút chốc nào cả và tại v́ mối liên hệ thời gian giữa những sự kiện không thể nào thiết lập được. Trong chương 11 của Trung luận (Mādhyamika), ngài Long Thọ (Nāgārjuna) phát biểu:

“Tất cả các pháp đều là không. Tại sao? Tại v́ chúng không sớm hơn, không muộn hơn, cũng không phải cùng lúc như một hiệu ứng. Khi nó được gọi là ‘sớm hơn’, ‘muộn hơn’ và ‘cùng lúc với’, những sự kiện như thế là không thể có. Làm sao các sự kiện có thể được tạo ra bởi các nguyên nhân? Cho rằng một nguyên nhân có trước một kết quả là không đúng. Tại sao? Nếu một nguyên nhân tồn tại sớm hơn và từ đó mà một kết quả được tạo ra muộn hơn, ở đó ngay từ đầu đă không có kết quả th́ cái ǵ là nguyên nhân của nó? Nếu một kết quả có trước một nguyên nhân, thế th́ kết quả vốn đă được thiết lập ngay khi không có nguyên nhân, vậy th́ tại sao nó cần đến một nguyên nhân? Nếu một nguyên nhân và một kết quả tồn tại cùng lúc, ở đó sẽ không có sản phẩm thuộc về nhân quả. Ví dụ, những cái sừng của con ḅ được mọc ra cùng lúc; sừng bên trái và sừng bên phải không phải là nguyên nhân của nhau. Cho nên cái gọi là nguyên nhân không thể là kết quả của nguyên nhân, bởi v́ chúng được tạo ra cùng một lúc. V́ thế, ba mối quan hệ thời gian giữa nguyên nhân và kết quả là không có thể đạt được”(24).

Rơ ràng là sản phẩm thuộc về nhân quả phải được thể hiện trong những mối liên hệ thời gian nhất định: một nguyên nhân sẽ là sớm hơn, muộn hơn, hoặc là cùng lúc với một kết quả. Nhưng ngài Long Thọ muốn chỉ ra rằng, thuộc tính trước, sau và cùng lúc của những khoảnh khắc thời gian đều là không, cho nên chức năng của sản phẩm nhân quả không thể được thiết lập. Bởi v́ nhân quả là không, tất cả mọi pháp đều không. Bởi v́ tất cả mọi thứ đều là những nguyên nhân và kết quả. Ngài Long Thọ nhắm đến việc chứng minh rằng tất cả mọi pháp đều không. Bởi v́ tất cả đều bị thiếu những bản chất của chính nó, chúng phụ thuộc lẫn nhau. Đây chính là học thuyết Duyên Khởi (pratītyasamutpāda) được tŕnh bày trong Trung luận (Mādhyamika) của ngài Long Thọ.


“Thời gian” được diễn tả trong “Vua Milinda vấn đạo”


Vua Milinda vấn đạo (Milinda-pañha) cho chúng ta thấy có sự tiến bộ rơ rệt về mối quan tâm đến vấn đề thời gian. Vua Milinda hỏi Tỳ kheo Na Tiên khá chi tiết về vấn đề này, và được trả lời rằng, có thời gian thuộc về quá khứ, hiện tại và tương lai. Khi nghiên cứu về khái niệm thời gian trong Vua Milinda vấn đạo, ông A.B. Keith phát biểu:

“Điều này được giải thích trong ư nghĩa có những sự sắp đặt (saṃkhāra), là quá khứ trong ư nghĩa đang bị chấm dứt sự tồn tại hoặc là đang bị tan ră, hoặc là hoàn toàn đă thay đổi; đối với chúng thời gian là không. Nhưng cũng có những duyên mà bây giờ đang tạo ra kết quả; hoặc ngược lại, những duyên ấy sẽ dẫn đến sự tái lập cá thể, đối với những duyên ấy th́ thời gian là có. Đối với những người chết đi rồi sau đó tái sanh th́ có thời gian, c̣n đối với những người chết đi mà không c̣n tái sanh nữa th́ không có thời gian; và với những người hoàn toàn được giải thoát nhờ đạt đến Niết-bàn (Nirvaṇa) và chỉ có thân thể của họ bị chết đi th́ ở đó thời gian tuyệt nhiên không có”(25).

Hơn nữa, rơ ràng là không có khả năng t́m ra điểm khởi đầu của thời gian, hoặc là điểm tột cùng trong quá khứ; điều này được làm rơ thông qua phép loại suy về hạt giống, trái cây, hạt giống; quả trứng, con gà mái, quả trứng; và cái ṿng của mắt, màu sắc, sự nh́n, sự tiếp xúc, cảm giác, sự mong muốn, hành động và những kết quả của hành động, và một con mắt trong sự sinh ra ở tương lai. Cuối cùng, Tỳ kheo Na Tiên nhấn mạnh khi phản đối ư kiến của vua cho rằng, có thể có sự gián đoạn giữa hiện tại và quá khứ, và tương lai th́ tiếp diễn không ngừng. Điều đó không thể có được, quá khứ đă chuyển tiếp đến hiện tại và hiện tại chuyển tiếp đến tương lai(26).

A.B. Keith tin rằng, những ư tưởng trong Vua Milinda vấn đạo xuất hiện dưới một h́nh thức khác ở trong luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidharmakośa). Những người theo Nhất thiết hữu bộ vẫn vững tin với việc duy tŕ sự tồn tại của mọi thứ trong quá khứ, hiện tại và tương lai, trong khi những người theo Phân biệt thuyết bộ (Vibhajyavādins) th́ phân biệt phương thức b́nh thường của chúng giữa:
1. Những yếu tố hiện tại và những ǵ trong quá khứ chưa tạo ra quả, những thứ đó là hiện hữu;
và 2. Những yếu tố tương lai và những thứ trong quá khứ đă tạo ra quả, những thứ đó là không hiện hữu.(27)


“Thời gian” được diễn tả trong kinh điển Đại thừa


Thời gian được diễn tả trong kinh điển Đại thừa (Mahāyana) có thể xem xét từ quan điểm về ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai đối với những kiếp của thời gian trong một hệ thế giới. Quan điểm này được xem là đặc biệt trong Tam tạng kinh điển bằng chữ Hán. Lewis R. Lancaster cho rằng, trong những kinh điển Đại thừa ở thời kỳ đầu, khi bàn về thời gian (adhvan) người ta không đề cập đến khái niệm này ở dạng số ít mà chỉ ở dạng số nhiều (ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai):

“Vấn đề ba thời đă khiến nhiều học giả Phật giáo bế tắc một thời gian dài trước khi có sự thăng tiến trong kinh điển Đại thừa và những trường phái Đại thừa, như những người theo thuyết Thí dụ bộ (Dārṣṭānika) đă phát biểu: “Ba thời hiện hữu và thường c̣n trong khi những thực thể do duyên sinh và biến chuyển qua ba thời th́ vô thường”.

Họ đă diễn tả quan điểm của họ bằng cách đưa ra phép loại suy về ba căn nhà liền kề nhau. Từ căn nhà thứ nhất một người xuất hiện và đi qua căn nhà thứ hai, có nghĩa là người đó đă từ bỏ tương lai và đi vào hiện tại, rồi người đó đi từ căn nhà thứ hai sang căn nhà thứ ba, có nghĩa là anh ta đă đi từ hiện tại đến quá khứ. Người ấy là vô thường và là nhân tố chuyển đổi, trong khi ba căn nhà thời gian th́ cố định và luôn sẵn sàng đón nhận ḍng chảy liên tục của những thứ vô thường(28).

Rơ ràng thời gian được tŕnh bày trong kinh điển Đại thừa khó hiểu hơn trong Phật giáo Nguyên thủy. Kinh điển Đại thừa chỉ đơn thuần phát biểu về những ǵ đă được hiểu và được Đức Phật thừa nhận(29), mà không tŕnh bày như một vấn đề để được xác chứng hay là bác bỏ những khái niệm về thời gian trong Phật giáo Nguyên thủy, chỉ là lời phát biểu về thời gian là ǵ. Đức Phật, một đấng Giác ngộ, Ngài biết tất cả mọi vấn đề, với năng lực siêu nhiên đă được phát triển thông qua thiền định (samādhi), đối với vấn đề này Ngài có thể nh́n xuyên suốt và hiểu rơ bản chất cũng như cốt tủy của ba thời(30).

Khi khái niệm ba thời được nh́n theo cách đặc biệt này, chúng được xem như là b́nh đẳng, không phân biệt, không chia cắt. Những thời gian ấy không đối chọi với nhau, bởi v́ ở đó không có thứ ǵ trong hiện tại là khác hay tách biệt với tương lai. Đây là trường hợp mà trong các kinh thường diễn tả, đối với những người thiếu sự hiểu biết, ba sự phân chia về thời gian, ba dấu hiệu đặc trưng của thời gian đều bị giới hạn trong trần thế này; nhưng ở một mức độ cao hơn, mức độ siêu việt, những dấu hiệu ấy tỏ ra là một sự ảo tưởng. V́ thế, Đức Phật dạy rằng, ba thời chỉ sở hữu một dấu hiệu, dấu hiệu của sự thiếu các đặc tính để phân biệt.(31)

Trong Đại trí độ luận, luận về Bát-nhă Ba-la-mật-đa (prajñā-pāramitā) do Ngài Cưu Ma La Thập biên soạn, phát biểu rằng, những ai không có Chánh biến tri sẽ gặp chướng ngại khi họ cố gắng có được sự nhận thức về ba thời.(32) Nó vượt ra ngoài khả năng của người b́nh thường. Hơn nữa, trong kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka-sūtra) chỉ ra rằng, vũ trụ của chúng ta là một trong số hàng ngàn vũ trụ của các hệ thế giới. Tất cả những thế giới này không có chung một cấp độ, cho nên thế giới mà chúng ta đang sống được bao trùm bên trong một cảnh giới khác, nếu nó mở rộng ra th́ vượt ra ngoài những ǵ chúng ta có thể hiểu được. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả:

“Nếu chúng ta thêm vào tất cả những ngày và đêm của những hệ thế giới cho đến tổng số là một kiếp (kalpa), vô số năm này bằng một ngày một đêm ở thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà. Và nếu người nào sống ở cảnh giới của Phật A Di Đà (Amitābha) một kiếp th́ bằng một ngày một đêm ở cơi Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasaṃhata), và một kiếp (kalpa) ở cơi Kim Cang Tát Đỏa th́ bằng một ngày một đêm ở cơi Pháp Tướng (Dharmaketu), và cứ như vậy cho đến hàng trăm, hàng triệu cảnh giới chư Phật”(33).

Và thế là các kinh lại một lần nữa đưa chúng ta trở về với sự trống rỗng của thời gian, cũng như là sự khó hiểu của nó, sự vắng mặt những dấu hiệu nhận dạng. Kinh Hoa Nghiêm c̣n chỉ ra rằng, khi Đức Phật nhập vào chánh định (samādhi) th́ Ngài thấy tất cả ba thời đều bằng nhau và như nhau(34).

Ở đây, thời gian được hiểu như là toàn bộ sự kéo dài của thực tại. Nó không phải là một khoảng thời gian ngắn như là sát-na (kṣaṇa) đă được diễn tả trong Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) và trong Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá. V́ thế, khái niệm thời gian ở trong kinh điển Đại thừa có thể được định h́nh chỉ khi sự thay đổi trong thực tế hay là sự tiếp nối của những sự kiện được diễn ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu vắng mặt sự thay đổi trong ư nghĩa về tính tạm thời th́ ở đó sẽ không có khái niệm thời gian. Thời gian trong ư nghĩa này là một khái niệm phát sinh. Ở cấp độ thực tại tuyệt đối (tathatā), không có sự thay đổi nào được thừa nhận, dù là trong Đại trí độ luận, luận về Bát-nhă Ba-la-mật-đa của ngài Cưu Ma La Thập (Kumārajīva) hay là trong Cứu cánh nhất thừa luận (Uttaratantra) của ngài Di Lặc (Maitreya). Do vậy, nếu thời gian thiếu những dấu hiệu nhận dạng, làm sao chúng ta có thể nói có thời gian? Khi Lancaster nói rằng: “Nó là thực tại toàn thể, là vũ trụ đích thực”, ông ấy xem thời gian như là toàn bộ sự kéo dài của thực tại(35).


Sát-na liên quan đến ư nghĩa của cuộc sống


Thông qua những nghiên cứu về một vài nguồn tư liệu chính yếu bàn về khái niệm thời gian trong Phật giáo, chúng ta có thể có được sự hiểu biết căn bản về khái niệm sát-na (kṣaṇa). Trong Phật giáo Nguyên thủy, sát-na được diễn tả như là ‘duyên’ và ‘thời gian’ hay là ‘tính nhất thời (khaṇa)’. Như thế, khái niệm về thời gian trong Phật giáo Nguyên thủy chỉ ra rằng, mạng sống rất là ngắn ngủi. V́ vậy, hành giả phải luôn ư thức về mỗi sát-na để thực hành những hạnh lành. Hành giả cần phải dành nhiều thời gian cho việc thực tập giáo pháp để có được lợi ích cho tự thân và tha nhân. Hơn nữa, mặc dù sát-na (kṣaṇa) chỉ kéo dài trong phút chốc (ekacitakkhaṇitka), nhưng những thiện nghiệp mà chúng ta đă tạo sẽ đem đến những quả lành trong tương lai gần, nếu chúng ta thực hành giáo pháp (dhamma) liên tục từ sát-na này đến sát-na khác.

Theo như trong Luận A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidharmakośa) th́ một sát-na là bằng 0,01333 giây, c̣n trong Luận A-tỳ-đàm (Abhidhārmika) th́ khoảng thời gian mà một lực sĩ khảy ngón tay là bằng 65 sát-na (kṣaṇa). Đây là khoảng thời gian tối thiểu cần thiết đối với những đặc điểm của sát-na để có thể đạt đến những hoạt dụng của nó. Nếu không có khoảng thời gian tối thiểu cần thiết này th́ các pháp (dharmas) không bao giờ được h́nh thành. Từ những quan điểm của Buddhadeva, thời gian được diễn tả thông qua quá khứ, hiện tại và tương lai đối với một pháp, tạo thành một ṿng tṛn.

Đến ngài Long Thọ (Nāgājuna) th́ thời gian được xem như là một pháp (dharma). Bởi v́ tất cả các pháp, chúng phụ thuộc lẫn nhau, đều không có tự tánh, chúng là không, cho nên thời gian cũng là không. Chính v́ lẽ này, chúng ta không thể t́m thấy điểm khởi đầu hay là điểm kết thúc của nó. Hơn nữa, trong kinh điển Đại thừa, chúng ta không thể nào nhận ra được thời gian v́ nó vượt lên trên khả năng nhận biết thuộc ư thức của chúng ta. Do nó thiếu những đặc tính để phân biệt nên chúng ta không thể nào thông suốt và thấu hiểu về ba thời, chỉ có Đức Phật, đấng Chánh biến tri, người có được năng lực siêu phàm thông qua thiền định (samādhi) mới thấu hiểu được.

Cuối cùng, từ chính những kinh nghiệm cá nhân của chúng tôi và sự hiểu biết thông qua việc t́m hiểu về khái niệm thời gian trong kinh điển Phật giáo, chúng tôi hiểu ra rằng, sát-na (kṣaṇa) là một khoảng thời gian rất ngắn, thậm chí ngắn hơn cả khoảng thời gian mà một ư niệm sinh khởi. Tuy nhiên, nó là khoảng thời gian cần thiết để cho các pháp vận hành. Rơ ràng là dù cho mạng sống của chúng ta thọ hay yểu th́ đều được cấu thành bởi những sát-na đơn lẻ. Bởi v́ chỉ có sát-na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hăy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm. Làm được như thế th́ trong tương lai, nhiều điều tuyệt vời, đầy hứa hẹn sẽ đến với chúng ta
Thích Hạnh Tuấn
Quảng Trí dịch
(Nguyên tác Anh ngữ: “From studying the concept of time in Buddhism toward understanding the meaning of life” )
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #555
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Tại sao đạo Phật xuất hiện ?






Có câu hỏi :

- Tại sao đạo Phật xuất hiện?

- Đạo Phật xuất hiện v́ mục đích ǵ?

Do thắc mắc rằng nếu chỉ dạy “làm lành, lánh dữ” th́ các tôn giáo khác, ngay trong thời thái tử Tất Đạt Đa chưa ra đời, họ cũng đă dạy, đức Phật thiết lập thêm một tôn giáo nữa làm chi, chẳng lẽ để cạnh tranh với các tôn giáo đương thời?

C̣n như nếu chỉ dạy sống vui, sống khỏe, th́ những thầy giáo làng ở chốn quê mùa hẻo lánh cũng đă dạy hàng ngàn năm trước rồi. Cao hơn nữa th́ có những môn triết học, tâm lư, không cần phải chờ tới khi có một bậc Đại Giác ra đời, thiết lập hẳn một tôn giáo để dạy.

Trả lời những câu hỏi này, xin thưa rằng:

- Duyên khởi sự xuất hiện của đạo Phật bắt nguồn từ sự bừng tỉnh, Chứng Ngộ Thực Tại của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vài trong số những Phật ngôn đầu tiên sau khi Ngài vừa mới bừng tỉnh là:

“Xuyên qua nhiều kiếp sống trong ṿng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi măi.
Như Lai măi đi t́m mà không gặp, Như Lai đi t́m người thợ cất cái nhà này.
Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.
Này hỡi người thợ làm nhà,
Như Lai đă t́m được ngươi.
Từ đây ngươi không c̣n cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất cả sườn nhà đều găy,
Cây đ̣n dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đă chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đă tận diệt mọi Ái Dục”.

và:

“… Tri kiến và nhăn quan đă phát sanh đến ta. Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Đây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không c̣n trở thành, không c̣n tái sanh.” — (kinh Trung A-Hàm).

Từ sự Chứng Ngộ, đức Phật phát hiện được một thực tế là “Tất cả chúng sinh đều có Giác Tánh như Ngài, và có thể thanh lọc ô nhiễm để chuyển hóa thành Phật như Ngài”.

Do phát hiện đó, khởi tâm Đại Bi, Ngài dùng suốt quăng thời gian c̣n lại của đời sống trên thế gian trên bốn chục năm, tận tụy đi rao giảng những kinh nghiệm hành tŕ và tu chứng của Ngài để mọi chúng sinh đều có thể Giác Ngộ Giải Thoát như Ngài. Những lời dạy đó tích lũy thành tạng Kinh, là phần Giáo Pháp. Và như thế, đạo Phật xuất hiện trên đời.

Tuy nhiên, đức Phật đă dạy trong kinh Trung A Hàm::

“Giáo Pháp mà Như Lai đă chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lănh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lư, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu.”

Thật vậy, Giáo Pháp của Ngài quả là sâu sắc, uyên áo, khó hiểu, khiến cho các vị Luận Sư phải dùng tới hàng nhiều ngàn trang giấy để viết lên những bộ Luận Giải, mong giúp người đọc dễ nhập môn. V́ thế, có người tưởng đạo Phật là một mớ triết lư, cứ việc đem ra cùng nhau bàn thảo, giống như những vấn đề triết học, vốn không đ̣i hỏi sự tu hành, là đă uống xong ly nước Cam Lồ của đạo Phật.

Hiểu như thế là sai lầm, là làm phí uổng bản hoài của đức Phật mong cứu chúng sinh, trôi qua mất một kiếp ở trong nhà Phật.

Giáo lư nhà Phật không phải là một mớ lư thuyết suông, mà là tổng kết quá tŕnh hành tŕ dẫn tới Chứng Ngộ của đức Phật. Từ kinh nghiệm Chứng Ngộ này, đức Phật dạy lại cho chúng sinh, để tất cả đều có cơ hội Chứng Ngộ như Ngài.

Ḥa thượng Narada Maha Thera đă viết về công phu hành tŕ và tu chứng của đức Phật trong cuốn “The Buddha and His Teachings”, cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch ra tiếng Việt như sau:

“Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài sáu năm đằng đẵng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của một năng lực siêu phàm nào, đơn độc một ḿnh và chỉ nương nhờ nơi nỗ lực của chính ḿnh, đạo sĩ Gotama, lúc ấy ba mươi lăm tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến tŕnh tham ái và Chứng Ngộ Thực Tướng của vạn pháp, đă trở thành một vị Phật (Buddha), Đấng Chánh Biến Tri, bậc Toàn Giác.

Không phải khi sanh ra Ngài đă là Phật, mà Ngài trở thành Phật do sự nỗ lực của ḿnh. Phạn ngữ Buddha xuất nguyên từ căn “Budh”, là Hiểu Biết hay Thức Tỉnh. Gọi là Buddha v́ Ngài hiểu biết đầy đủ Bốn Chân Lư Thâm Diệu Cao Quư (là Tứ Diệu Đế), và từ giấc mơ vô minh Ngài đă thức tỉnh.

Đức Phật cũng không bao giờ tự nhận là có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng sự cứu rỗi của ḿnh. Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỷ bước theo dấu chân Ngài không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự ḿnh giải thoát lấy ḿnh, bởi v́ cả hai, trong sạch và bợn nhơ, cũng đều tùy thuộc nơi chính ḿnh. Ta không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm.

Để minh định rơ ràng mối tương quan của Ngài đối với hàng môn đệ và để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện tự ḿnh nhận lănh trọn vẹn trách nhiệm và tự ḿnh nỗ lực kiên tŕ, Đức Phật minh bạch dạy rằng:

- “Các con phải tự ḿnh nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư.”

Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của ṿng sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh. Đi trên con đường và theo đúng phương pháp hay không, là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống.

- “Ỷ lại nơi kẻ khác để giải thoát cho ḿnh là tiêu cực. Nhưng đảm đang lănh lấy trách nhiệm, chỉ tùy thuộc nơi ḿnh để tự giải thoát, quả thật là tích cực.”

Tùy thuộc nơi người khác là đem tất cả cố gắng của chúng ta ra quy hàng.

- “Hăy tự xem con là hải đảo của con. Hăy tự xem con là nương tựa của con. Không nên t́m nương tựa nơi ai khác!”

Phật giáo không đ̣i hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng. Do đó một niềm tin tưởng suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là ḷng tín nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết.

Niềm tin mà người Phật tử đặt nơi Đức Phật cũng giống như niềm tin mà bệnh nhân đặt nơi một lương y trứ danh hay của tṛ đặt nơi thầy. Mặc dầu t́m nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng, là thầy dắt dẫn trên Con Đường Trong Sạch, người Phật Tử không quy phục mù quáng như kẻ nô lệ, không tin rằng chỉ quy y Tam Bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam Bảo mà ḿnh có thể trở nên trong sạch.

Không ai, dầu là Đức Phật đi nữa, có đủ quyền lực để gội rửa bợn nhơ của người khác. Nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch, cũng không ai có thể làm hoen ố người khác.

Đức Phật là vị Tôn Sư có thể giúp đỡ bằng cách vạch ra con đường, nhưng chính ta phải lănh lấy nhiệm vụ gội rửa thân tâm của chúng ta.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

– “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”. (Câu 145)

Người Phật tử không làm nô lệ cho một quyển sách hay một cá nhân, cũng không hy sinh tự do tư tưởng của ḿnh khi bước theo dấu chân của Đức Phật. Người Phật tử hoàn toàn tự do thực hiện ư chí, mở mang kiến thức và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính ḿnh đắc Quả vị Phật, bởi v́ khả năng trở thành Phật nằm bên trong tất cả mọi chúng sanh.

Đức Phật dạy:

– “Người nào thấy Giáo Pháp (Dhamma) là thấy Như Lai”.

Một đặc điểm khác nên được ghi nhận trong nghi lễ tụng niệm Phật Giáo, đó là, câu kinh không phải là lời thỉnh nguyện, cũng không phải là lời cầu xin chuyển đạt một nguyện vọng. Dầu ta có bỏ hết th́ giờ để cầu xin cũng không được ǵ.

Đức Phật không khi nào và không thể nào ban bố những ân huệ cho người cầu nguyện. Để được cứu rỗi, người Phật tử không nên cầu nguyện mà phải nhận lănh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên tŕ tu tập để tự thanh lọc và thành tựu giải thoát. Không nên lệ thuộc người khác mà phải nương nhờ nơi ḿnh, tự ḿnh cố gắng.

Đức Phật dạy:

– “Các con phải cố gắng, các đấng Như Lai chỉ là những vị thầy”

Chẳng những cầu nguyện, van xin, là vô ích mà đó c̣n là thái độ nô lệ tinh thần. Thay v́ đọc kinh cầu nguyện, Đức Phật khuyên nên cố gắng hành thiền để ghép ḿnh vào kỷ luật, tự kiểm soát, tự thanh lọc tâm, và giác ngộ. Thiền tập là liều thuốc bổ cho cả tâm lẫn trí.

Trong Phật Giáo không có Thần Linh vạn năng, bắt buộc tín đồ phải sợ hăi cúi đầu vâng lệnh. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, quan niệm như một thực thể toàn năng, hay có năng lực vô cùng tận. Không có tánh cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những lời sấm của một Thần Linh từ đâu trên cao ban xuống đến cho con người. Do đó người Phật tử không quỵ lụy phục tùng một oai lực siêu nhiên cầm quyền thưởng phạt và kiểm soát định mạng.

Bởi v́ không tin nơi thiên khải Thần Linh, Phật giáo không đ̣i hỏi độc quyền nắm chân lư và không bài xích bất cứ tôn giáo nào khác. “Tánh thiên chấp là kẻ thù tệ hại nhất của tôn giáo”.

Với đức tánh rộng lượng khoan dung của Ngài, Đức Phật hằng khuyên hàng môn đệ không nên giận dữ, bất măn, hay không vui ḷng, nếu có ai nói xấu Ngài, Giáo Pháp của Ngài, hay Giáo Hội mà Ngài sáng lập. Đức Phật dạy:

– “Nếu các con giận dữ, bất măn, hay không vui ḷng, chẳng những các con tự đặt ḿnh vào chỗ hiểm nguy có thể mất cả nền tảng đạo đức tinh thần, mà các con c̣n không thể xét đoán đúng mức lời chỉ trích có giá trị hay không”.

Các lời lẽ có rất nhiều ư nghĩa kia mà Đức Phật đă dạy trong những ngày sau cùng của Ngài quả thật mạnh mẽ, nổi bật và cảm kích. Điều này chứng tỏ rằng cố gắng cá nhân là yếu tố tối cần để thành tựu mục tiêu. T́m sự cứu rỗi nơi những nhân vật hảo tâm có quyền năng cứu thế và khát khao ham muốn hạnh phúc ảo huyền xuyên qua những lời van vái nguyện cầu vô hiệu quả và nghi thức cúng tế vô nghĩa lư, quả thật là vô ích.

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giă cơi đời như một người.

Trong thời Ngài c̣n tại thế, Đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết ḷng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng là Thần Linh.”....

Ḥa thượng Walpola Rahula cũng viết trong cuốn “What the Buddha Taught”, ni sư Trí Hải dịch như sau:

…“… Theo giáo lư của đức Phật, quan niệm bản ngă là một tín ngưỡng ảo tưởng sai lầm không đi đôi với thực tế và tạo ra tư tưởng có hại, cho là “ta” hay “của ta” như tham đắm, ích kỷ, dục vọng, luyến ái, thù hận, ác ư, tự kiêu, ngạo mạn, vị kỷ và các tật đố hoen ố khác, nhơ bẩn và rắc rối. Đó là nguồn gốc của các phiền năo trên thế giới từ những mâu thuẫn cá nhân đến chiến tranh giữa các nước. Tóm lại, v́ quan điểm sai lầm nầy mà tất cả những tội lỗi trên thế giới đă xảy ra. “

và :

…”…Sự khác biệt của tử và sanh chỉ là giây phút cuối cùng của tư tưởng: lúc tư tưởng cuối cùng của đời sống này tạo thành điều kiện cho tư tưởng đầu tiên trong cái gọi là đời sống kế tiếp, mà nói cho đúng ra, chỉ là sự tiếp nối một loạt như vậy. Trong chính đời sống của nó, cũng vậy, giây phút tối hậu của tư tưởng tạo điều kiện cho tư tưởng kế tiếp. Cho nên từ quan điểm của người Phật tử, câu hỏi về đời sống sau khi chết không phải là một huyền bí to lớn, và người Phật tử không bao giờ lo lắng về vấn đề này”.

Tóm lại, đạo Phật ra đời là do tâm Đại Bi của đức Phật, người đă bừng tỉnh khỏi cơn mê, đă Chứng Ngộ Thực Tại, đă biết được con đường ra khỏi mê vọng để trở thành bậc Toàn Giác, nên đă giơ cao ngọn đuốc Ánh Đạo Vàng cho chúng sinh noi theo mà cũng ra khỏi được cơn mê từ vô thủy, được giác ngộ giải thoát.

Sự giải thoát này hoàn toàn do sức ḿnh, tự tu tự độ, không hề có sự cầu xin nào trong quan điểm của nhà Phật vào thời đó.

Khoảng năm trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, do một số bất đồng tư tưởng, và do nhu cầu phát triển, bộ phái Đại Thừa xuất hiện. Bộ phái này truyền bá qua các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, là những dân tộc vốn đă có nền văn hóa thờ rất nhiều thần linh, nào là Sơn thần, Thủy thần, Thổ thần, thần sông Hà Bá, thần cây cổ thụ, thần gốc đa, ông bà Táo Quân, thần rắn, thần ba ba thuồng luồng, thần ông b́nh vôi, vân vân…

V́ nhà Phật đi tới đâu cũng dùng tinh thần ḥa hoăn, uyển chuyển, tùy thuận chúng sinh, nên cũng tạm thời ḥa nhập với dân địa phương mà cùng với họ tham dự những lễ lạc mà họ đă có từ lâu đời, rồi theo thời gian sẽ dùng giáo pháp để chuyển hóa họ một cách nhẹ nhàng. Có sinh hoạt chung với người dân địa phương th́ các Sư Phật giáo mới có cơ hội soi rọi Ánh Đạo Vàng của nhà Phật cho họ.

Nơi nào mà có các bậc đạo sư chân chính th́ càng ngày người dân càng tỉnh ngộ, những chuyện cúng sao giải hạn hoặc mê tín quàng xiên từ từ giảm bớt. Thức tỉnh được dân hay không là tùy theo sự sáng suốt, tinh thần tích cực và đức độ tu hành chân chính của vị Sư Phật giáo trong những ngôi chùa địa phương mà thôi.

Có một vài câu hỏi cũng thường được nêu ra trong những lúc thảo luận về đời sống tu tŕ của các tu sĩ Phật giáo, rằng:

– Tại sao có Sư ăn chay, có Sư ăn thịt cá?

Xin thưa rằng, vào thời Phật tại thế, tất cả các Sư đều chỉ đi khất thực, (tức là đến từng nhà dân chúng để nhận cơm của thí chủ cúng dường, gọi là tŕ b́nh), để ăn một bữa cơm vào lúc giữa trưa, gọi là Ngọ Trai. Thí chủ cúng ǵ th́ các Sư ăn nấy, tuyệt đối không chọn lựa. Trong khi ăn không để tâm chạy theo sự ham thích hay chán ngán, không thưởng thức món ăn ngon hoặc dở, chỉ coi sự ăn uống là để đáp ứng nhu cầu cần thiết vừa đủ của cơ thể, ngơ hầu đủ sống mà tu hành cho tới đạt được quả vị Giác Ngộ. Như thế thực phẩm gồm những món ǵ, các Sư không quan tâm, trong bát có ǵ th́ ăn nấy, không chọn lựa, và ăn luôn cả thịt cá, nếu trong bát có. Khi ăn giữ tâm tĩnh lặng, không biết tới mùi vị của món ăn là đúng pháp rồi. Nếp sống ấy vẫn c̣n được các nước tu theo Nam Tông duy tŕ.

Việt Nam chúng ta gồm có cả các chùa Bắc Tông (tức là Đại Thừa) và Nam Tông. Chùa Đại Thừa có bếp, các Sư đều tự nấu và ăn chay trường.


Trích "T́m hiểu Phật Pháp Tuệ Đăng"
http://khaiphong.net/showthread.php?...%26%23259%3Bng
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #556
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Ư nghĩa
Ṿng Hoa Phúng Điếu





Hỏi:

Trong tuần qua, nhân bà bạn của mẹ tôi tạ thế, tôi gặp một vấn đề khiến cứ phải suy nghĩ măi. V́ vậy tôi viết thư này nhờ quư vị t́m cho một giải pháp thỏa đáng. Câu chuyện như sau:

Bác này khi c̣n ở Việt Nam, nhà bác ngay cạnh nhà tôi. Bác có hai con th́ người con trai là bạn anh tôi, con gái bác là bạn tôi, nên hai gia đ́nh thân nhau lắm. Nghe tin bác mất, tôi đưa ngay mẹ tôi tới nhà bác, trước là an ủi các con bác, sau là phụ giúp những việc linh tinh trong tang lễ, coi như việc nhà.

V́ ở ngay tại Orange County, nơi được coi là thủ đô tỵ nạn, nên cũng như tất cả những tang lễ khác, mọi việc đă có nhà quàn lo chu tất, tang gia chỉ có việc đăng cáo phó, sắm sửa hương nến để bầy trên bàn thờ, vân vân. Tưởng chuyện đơn giản, nhưng mà không phải vậy, riêng cái vụ cáo phó, đă có chuyện phiền rồi.

Gia đ́nh bạn tôi khi xưa vốn nghèo, nhưng nhờ học giỏi, nên anh của bạn tôi được một gia đ́nh vọng tộc gả con gái. Đến chỗ ghi tên thông gia, vợ anh đ̣i phải in tên mẹ chị ấy là bà quả phụ Thiếu Tướng. Bạn tôi góp ư:

- Em nghĩ là nếu bác trai c̣n th́ đề thông gia là gia đ́nh Thiếu Tướng mới có lư do. Vả lại, Thiếu Tướng là đương nhiệm ḱa, ḿnh đă di tản sang đây, bác đă thôi đi làm th́ phải đề là nguyên Thiếu Tướng. Bác đă mất th́ lại phải đề là cố Thiếu Tướng.

Chị dâu bạn tôi sầm mặt lại, không thèm nói ǵ nữa. Chồng chị vội xuê xoa, kiểu “dĩ ḥa vi quư “:

- Ăn nhằm ǵ, cái cáo phó ư mà. Đương nhiệm th́ ba chị ấy nay đă lên đến Đại Tướng rồi ấy chứ. Mà ông có mất rồi th́ mới ghi là bà quả phụ, ai chả biết.

Thế là thông qua. Sang đến chữ “Xin miễn phúng điếu”. Mục này th́ anh của bạn tôi phát pháo đầu tiên. Anh lên giọng giảng giải:

- Phúng điếu làm phiền người ta tốn tiền vô ích. Ngày xưa thời phong kiến, khi cha mẹ quan lớn chết th́ hủ tục phúng điếu là một dịp để quan lớn moi tiền thuộc cấp, và thuộc cấp hối lộ quan lớn, qua h́nh thức phúng điếu cụ cố. Hoặc là ở nhà quê nghèo khổ, phúng điếu là một cách lân bang hàng xóm giúp đỡ cho nhà đám có tiền mà làm đám ma. Tới chừng chính nhà ḿnh có chuyện th́ người ta trả lễ, giúp lại ḿnh ư mà. Bây giờ có ai quan quyền hoặc túng thiếu ǵ đâu mà lấy phúng điếu của người ta.

Anh nói th́ cũng có lư, bạn tôi hỏi thêm:

- Thế có ghi là “Xin miễn phúng điếu, kể cả hoa” không?

Bây giờ có lẽ chị dâu bạn tôi đă nguôi ngoai, nên góp lời:

- Dĩ nhiên, phần lớn phúng điếu là hoa đó. Phải ghi vào chứ. Hoa là vô ích nhất. Được có vài ngày đă héo mất rồi. Mà mỗi ṿng hoa cả trăm bạc, phí tiền. Chẳng thà để tiền làm việc thiện lại c̣n có ích hơn. Cứ để cái hộp trên bàn thờ, dán vào tờ giấy ghi là “Xin miễn phúng điếu, quư vị có ḷng xin bỏ tiền vào hộp để làm việc thiện”.

Bạn tôi hỏi:

- Như thế làm sao biết được họ bỏ vào hộp bao nhiêu, để sau này nhà họ có việc ḿnh c̣n trả lễ cho người ta?

Chị dâu nguưt:

- Th́ chính là để dẹp luôn cái hủ tục trả lễ ấy đấy. Lễ qua lễ lại chỉ tốn th́ giờ!

Bạn tôi cười nhạt:

- Mà tốn tiền nữa ấy chứ, anh chị nhỉ ? Bây giờ nhận lễ th́ sau này anh chị phải trả lễ đấy, không đến phiên em đâu. Con trai báo hiếu cha mẹ mà.

Có lẽ thấy t́nh h́nh găng, mẹ tôi xen vào, giọng nghẹn ngào:

- Các con à, mẹ các con với bác cũng như chị em nên bác có vài lời, các con nghe th́ nghe, không nghe th́ bỏ, coi như bà già nói xàm, đừng có giận. Vào thời bác, đám tang cha mẹ quan trọng lắm, v́ đó là cơ hội cuối cùng cho người con có dịp tỏ ḷng thương kính cha mẹ, cảm tạ công ơn nuôi dạy, chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, bế ẵm, rồi c̣n vất vả mấy chục năm trời, dạy dỗ, lo cho con đi học nên người. Thời bác, khi cha mẹ chết, người đến phúng điếu dù ít tuổi, dù vai vế thấp, ḿnh cũng rạp người xuống lạy tạ người ta, cảm ơn người ta đă đến thăm viếng hương hồn cha mẹ ḿnh. Đó là một cách để báo hiếu cha mẹ lần cuối cùng, trước khi xa cách vĩnh viễn đó các con à. Ngày nay cha mẹ chết, người ta đem ṿng hoa tới phúng viếng vong linh cha mẹ ḿnh, cho nó bớt tẻ lạnh, bớt tội nghiệp cái thi hài nằm trong nhà xác, mà ḿnh lại tính toán, không muốn cho người chết được ấm cúng với ṿng hoa thơm, ṿng hoa vĩnh biệt, ướp mùi hương lần cuối cùng, cho cả cuộc đời vất vả v́ con, bác thật là buồn quá !

Thấy mẹ tôi rơm rớm nước mắt, tôi vội cáo từ để đưa mẹ về, kẻo mẹ giận lại phát lên cơn bệnh cao máu.

Về nhà rồi, tôi cứ suy nghĩ hoài. Trong đời sống hằng ngày tại nước ngoài, tôi thấy chúng ta cũng đă du nhập một số tục lệ của người Tây Phương, nhiều cái cũng hay. Tôi cũng đă dự mấy đám tang trong sở, người Mỹ họ không lấy tiền phúng điếu, mà đưa cho ḿnh tên một cơ quan từ thiện, yêu cầu ḿnh gửi thẳng ngân phiếu ghi số tiền mà ḿnh muốn phúng điếu đến địa chỉ đó. Số tiền gửi tặng cơ quan từ thiện này, cuối năm lại được trừ thuế, mà tiền th́ lại được tiêu vào việc có ích lợi. Tôi thấy làm vậy thực tế hơn là mua ṿng hoa, vài ngày đă héo, cũng phí tiền thật. Tuy nhiên, những lời nói đầy t́nh nghĩa của mẹ vẫn văng vẳng bên tai, khiến cho tôi cứ bâng khuâng hoài, nên viết thư này xin quư vị cho biết ư kiến.

NKT

Đáp:

Xin cảm ơn bà đă gửi tới một lá thư tŕnh bày rất chi tiết. Cũng xin được chúc mừng bà hăy c̣n mẹ già minh mẫn, mẹ con được sống chung với nhau. Căn cứ vào lời dạy của cụ “Thời bác, khi cha mẹ chết, người đến phúng điếu dù ít tuổi, dù vai vế thấp, ḿnh cũng rạp người xuống lạy tạ người ta, cảm ơn người ta đă đến thăm viếng hương hồn cha mẹ ḿnh” là quan điểm của thế hệ người Việt Nam trưởng thành trước năm 1945, chúng tôi đoán rằng năm nay cụ cũng cỡ gần tám chục tuổi rồi, phải không ạ? Một lần nữa, xin chân thành chúc mừng bà.

Có những người bạn của chúng tôi đă buồn bă than rằng mỗi khi gặp cha mẹ trong nursing home, các cụ không c̣n nhận ra được con cái, mà ngơ ngác hỏi: “Ông, bà là ai?”, thấy đau ḷng quá. Họ áy náy rằng muốn giữ các cụ trong nhà th́ không có khả năng và phương tiện, v́ ḿnh cũng phải đi làm kiếm sống, lại yếu đuối, không thể bế ẵm làm vệ sinh cho cha mẹ, như những chuyên viên được. Có gia đ́nh thương cha mẹ già, giữ cha mẹ trong nhà, nhưng không thường xuyên tắm rửa cho các cụ được, khi sở xă hội tới quan sát, thân nhân bị kết tội “bỏ bê” các cụ. V́ lư do đó, họ yêu cầu chuyển các cụ vào nursing home, để được các chuyên viên săn sóc, đúng tiêu chuẩn hơn. Về mặt vật chất, vệ sinh, th́ có thể đúng tiêu chuẩn hơn đấy, nhưng thiếu giọng nói tiếng cười của con cháu, các cụ cứ héo hon dần. Hoàn cảnh sống đă khác với khi c̣n ở quê nhà, nên cũng có những điều mà ḿnh muốn làm cho nhau, nhưng không c̣n có thể được nữa.

Cho nên, trong vấn đề “hội nhập với nền văn hóa Tây Phương”, cũng có nhiều điều rất tốt. Nhưng cũng có những điều chúng ta nên suy nghĩ thêm. Một trong những điều đó là “ṿng hoa phúng điếu”

Thưa quư vị,

Không riêng ǵ cụ thân sinh bà Kim Trang không đồng ư, mà chính chúng tôi cũng thấy rất lấn cấn trong việc “tang gia từ chối ṿng hoa phúng điếu” này.

Có lẽ chúng ta đều đồng ư với nhau là hoa đem lại cho cuộc đời rất nhiều ư nghĩa. Ngay từ lúc một em bé chào đời, em đă được hưởng mùi hoa thơm mà mọi người mang tới mừng đón em. Rồi từ đó, hằng năm, mỗi buổi mừng Sinh Nhật của em, pḥng tiệc lại tràn ngập hoa tươi trang trí, nếu em se ḿnh nhức mẩy, bạn bè thân thuộc của cha mẹ tới thăm cũng đem hoa tới chúc em mau lành. Rồi em lớn lên đi học, đi thi, mỗi dịp lễ lạc là lại có hoa bày biện khắp nhà. Khi em có người yêu, hoa cũng là cầu nối, nói giùm những lời em muốn nói mà không ra lời. Trong thời gian yêu đương, hoa đă giúp ḥa giải biết bao nhiêu là giận hờn giữa đôi trẻ. Rồi khi đôi trẻ quyết định cùng nhau đi trọn đường đời, trong ngày cưới, món quà đầu của đôi uyên ương tặng nhau, cũng là một bó hoa tươi, biểu tượng của cuộc t́nh đầy yêu thương, tràn ngập hạnh phúc. Trong suốt cuộc sống chung dài đằng đẵng, hoa đă không biết bao nhiêu lần hàn gắn những hiểu lầm, những vô ư, đôi khi có thể làm rung rinh tổ ấm. Hoa đă làm đẹp cuộc đời đôi bạn cho tới khi đôi trẻ trở thành có tuổi, th́ đó lại là lúc hai mái đầu bạc cùng nhau bưng b́nh hoa lên chùa cúng Phật, dâng lên Đức Mẹ, Đức Chúa, Đền Thánh, vân vân, tỏ ḷng thành kính đối với các đấng thiêng liêng.

Hoa không chỉ giúp xây đắp t́nh cảm trong gia đ́nh, hoa c̣n làm đẹp đời sống của mọi người trong xă hội. Không thể kể xiết đă có biết bao nhiêu lần trong cuộc đời, b́nh hoa thay ḿnh nói lên lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời âu yếm trong t́nh thân quyến, t́nh bạn, t́nh lân bang hàng xóm...vân vân. Một b́nh hoa tươi tuy không biết nói, nhưng thật là cảm kích xiết bao qua ư nghĩa thầm kín mà b́nh hoa mang lại.

Rồi th́ những ngày vui tưng bừng như ngày Tết, lễ Phật Đản Sinh, lễ Chúa Giáng Sinh, ngày Valentine, Father’s Day, Mother’s Day, ăn mừng tân gia, đón bạn từ xa tới, mừng đoàn tụ gia đ́nh, vân vân, luôn luôn có sự hiện diện của b́nh hoa. Bất cứ cuộc hội hè, đ́nh đám, họp mặt lớn nhỏ nào cũng đều phải trang trí bằng hoa. Người đời thượng cổ, hoặc tại những bộ lạc bán khai nơi rừng sâu núi thẳm, cũng dùng hoa để trang điểm. Hoa và người bước cùng nhịp bước trong cuộc đời như bóng với h́nh.

Riêng đối với đạo Phật th́ hoa rất là quan trọng. Hoa là biểu tượng của một nền giáo lư thâm áo, sâu sắc, nhắc nhở mọi người rằng, cũng như tất cả các hiện tượng trong thế giới tương đối, vẻ đẹp của hoa cũng không tồn tại vĩnh viễn, mà sẽ trải qua bốn sự chuyển biến trong một khoảng thời gian, là chu kỳ của Sinh, Trụ, Dị, Diệt.

Khi bông hoa bắt đầu nở, là “Sinh”, vẻ tươi đẹp tồn tại một thời gian ngắn, là “Trụ”, tiếp đến là sự thay đổi, chuyển qua mầu héo úa, là “Dị”, rồi tàn lụi, quắt lại, là “Diệt”. Chỉ cần quan sát bông hoa từ Sinh đến Diệt, người mẫn cảm cũng có thể nắm bắt được giáo lư nhà Phật về “Vô Thường”.

Hoa gắn bó với cuộc đời con người sâu sắc, t́nh nghĩa như thế, vậy tại sao trong buổi lễ vĩnh biệt cha mẹ, bạn bè, người thân, chúng ta lại không cho bông hoa tới tỏa hương thơm để âu yếm tiễn đưa thi hài người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng? Biết đâu thần thức người quá văng lại chẳng cảm thấy buồn tủi, bơ vơ, trong khung cảnh nhà quàn lạnh lẽo v́ thiếu hoa? Hơn nữa, mùi hoa tươi thơm ngát tỏa lên cũng giúp cho bầu không khí trong nhà quàn bớt vẻ lạnh lùng, ghê rợn. Thế th́ tại sao chúng ta lại tước đoạt món lễ vật thanh khiết dành cho người quá cố ấy? Cũng nên nhớ rằng ṿng hoa phúng điếu là dành cho người chết, chứ không phải để tặng người sống. Nếu người đến phúng viếng có v́ t́nh cảm với người sống mà đem hoa tới, th́ cũng nên cảm nhận ṿng hoa, đem trang hoàng tang lễ với nguyện ước thần thức cha mẹ được hoan hỉ, v́ thấy con cái được nhiều người quư mến, nên người quá cố cũng được hưởng lây.

Cũng như bà chị dâu kể trên, có một số người viện lẽ rằng đem hoa đến nhà quàn là một sự phí phạm, v́ chỉ vài ngày th́ đă đem người chết đi chôn rồi. Nếu lư luận theo kiểu đó th́ sự xức nước hoa của mọi người cũng là phí phạm, v́ chỉ được một ngày là hết mùi thơm, hoặc ăn những bữa tiệc linh đ́nh tốn tiền làm chi cho phí, chỉ một lúc sau th́ bao tử cũng tiêu hóa hết.

Người ta kiếm tiền để làm ǵ? Xin thưa rằng chính là để tiêu vào những việc cần phải tiêu. Nhưng thật ra tại nhiều nơi, nhất là ở Hoa Kỳ, dường như người ta đă tiêu phần lớn số tiền kiếm được vào những việc không hẳn là rất cần thiết, thí dụ, quần áo chưa rách, nhưng đă mua quần áo mới, không phải v́ cần mà v́ thích vẻ đẹp theo thời trang. Xe cộ, nhà cửa, tuy vẫn đủ dùng, nhưng cũng mua cái mới, đẹp hơn. Nếu so sánh th́ ṿng hoa tiễn người thân ra đi vĩnh viễn, c̣n cần thiết hơn tất cả những sự chi tiêu kể trên. Và nếu phải tính toán đến việc dẹp chuyện mua hoa phúng điếu, để dành tiền làm việc thiện, th́ có lẽ nên dẹp chuyện mặc theo mốt này nọ, ăn tại nhà hàng nổi tiếng kia để lấy tiền làm việc thiện, trước khi dẹp chuyện phúng điếu bằng hoa

Bà Kim Trang viết trong thư rằng con dâu bà cụ quá cố đề nghị là “Cứ để cái hộp trên bàn thờ, dán vào tờ giấy ghi là “Xin miễn phúng điếu”, quư vị có ḷng xin bỏ tiền vào hộp để làm việc thiện”....

Chúng tôi cũng đă từng thấy những chuyện tương tự xảy ra trong sở làm của người ngoại quốc. Họ yêu cầu các đồng nghiệp, ai muốn phúng điếu th́ kư ngân phiếu gửi thẳng tới một cơ sở tôn giáo, hoặc một hội từ thiện nào đó, mà họ nêu ra.

Nhưng mỗi nền văn hóa lại có những nét đẹp truyền thống riêng. Những đám tang người Tây Phương mà chúng tôi tham dự, thường chỉ đưa người qua đời tới huyệt mộ, rồi mọi người ra về, trong khi người Việt Nam khi đi đưa đám tang là đứng chờ cho tới lúc mắt nh́n thấy thi hài người quá cố đă được “vùi sâu chôn chặt”, c̣n thắp nén hương cuối cùng để ngỏ lời vĩnh biệt trước khi ra về.

Đối với những người thấm nhuần nền văn hóa Đông Phương, th́ cách xử sự lại cũng có sự tinh tế riêng. Người Đông Phương rất nhậy cảm trong những chuyện như là “làm việc thiện phải từ tâm khởi”. Đối với họ, làm việc thiện là một chuyện hoàn toàn tự nguyện, do sự “phát tâm”, có nghĩa là khởi tâm từ bi muốn giúp đỡ người khác. Sự “phát tâm” này là chuyện mỗi người đều làm trong suốt chiều dài của cuộc đời, trừ những người keo kiệt, bần tiện. Và cũng không cần phải chờ đến lúc có người chết, họ mới đem tiền đáng lẽ để phúng điếu, chuyển sang làm việc thiện, một kiểu “kéo giỗ làm chạp” như vậy. Đối với người Đông Phương, “gợi ư” như thế là thiếu tế nhị, nó có nghĩa như là phải có người “dậy bảo”, th́ họ mới biết làm việc thiện.

Một câu hỏi cũng nên nêu ra, là có phải tất cả những người Tây Phương đều không phúng điếu bằng hoa, mà gửi tiền cho hội từ thiện chăng? Xin thưa rằng không hẳn như vậy. Điển h́nh là hằng năm, vào ngày lễ Memorial Day, đích thân Tổng Thống đến đặt ṿng hoa tại nghĩa trang anh hùng tử sĩ, để cảm niệm ḷng ái quốc của họ. Mỗi khi có nhân viên trong chính phủ, trong các cơ quan qua đời, th́ những cơ quan liên hệ cũng gửi hoa tới phúng điếu. Ngay chính thông gia và bạn bè của chúng tôi là người ngoại quốc, ở tận các tiểu bang xa xôi, cũng đặt mua hoa gửi tới kính viếng khi cha mẹ chúng tôi tạ thế, chia sẻ nỗi buồn với chúng tôi.

Cũng nên xét lại trường hợp có thể coi như thiếu tế nhị, là tang gia đặt cái hộp ngay trên bàn thờ vong linh, với hàng chữ “Xin miễn phúng điếu, quư vị có ḷng xin bỏ tiền vào hộp để làm việc thiện”. Sự kiện này rất dễ gây bối rối, sượng sùng cho người khách đến viếng, v́ có thể họ quen dùng thẻ, nên không đem theo tiền để bỏ vào hộp, cảm thấy như có những cặp mắt nh́n soi mói, chê cười là keo kiệt.

Chúng ta đón mừng em bé vào đời bằng hoa tươi thơm ngát, cũng nên tiễn biệt người đă trải qua một đời lao nhọc bằng ṿng hoa tươi, ṿng hoa t́nh nghĩa làm ấm áp vong linh một người phải đành đoạn từ bỏ cuộc đời mà ra đi ... biền biệt....


Liên Hương (ĐPK)
Trích: thuvienhoasen online



Reply With Quote Reply With Quote .

--------------------------------------------------------------------------------




26-03-2017, 04:02
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #557
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Cầu siêu, cúng cơm, người chết có ăn được không ?
Bộ ba: Căn - Trần cảnh - Thức


Hỏi:

- Gia đ́nh tôi theo đạo Phật từ xưa, trong nhà có bàn thờ Phật, mẹ tôi ăn chay mỗi tháng bốn ngày. Nhưng bản thân tôi và các anh chị em, kể luôn cả cha tôi nữa, đều không biết ǵ nhiều về đạo Phật, ngoại trừ bàn thờ Phật và chiếc áo tràng màu khói hương của mẹ tôi.

Hôm nay anh chị em chúng tôi có mấy thắc mắc muốn hỏi quư vị v́ chúng tôi không thỏa măn với câu trả lời của mẹ tôi, là người Phật tử hiểu đạo nhất trong nhà.



Thắc mắc thứ nhất:

Chúng tôi thường thấy những gia đ́nh đạo Phật đến chùa làm lễ cầu siêu cúng cơm cho thân nhân đă chết hoặc những dịp đám giỗ, vân vân. Vậy xin hỏi rằng những vụ cầu siêu cúng cơm như thế, thân nhân đă chết có được hưởng ǵ không?

Thắc mắc thứ hai:

Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy th́ không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quư tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, được không ạ.

Mẹ chúng tôi th́ tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo.

Chúng tôi không nghĩ như mẹ, nhưng cũng không hiểu rơ, nên gửi thư này xin quư vị giải thích.
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #558
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Đáp:

- Về thắc mắc thứ nhất, chúng tôi xin nhắc lại phần tŕnh bày của chúng tôi trong một kỳ phát thanh trước đây, như sau:

“Theo Phật giáo, cái chết là sự chấm dứt của đời sống tâm-vật lư của cá nhân. Chết là sự diệt tắt của sinh lực, tức là đời sống tâm linh và vật lư, cùng với hơi nóng và thức.

Chết không phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, mặc dầu kiếp sống chấm dứt. Cái tiềm lực làm sống chúng sanh không bị tiêu diệt.

Cũng như ánh sáng đèn điện là biểu hiện bề ngoài mà ta có thể thấy của luồng điện vô h́nh, chúng ta là biểu hiện bề ngoài của luồng nghiệp vô h́nh. Bóng đèn có thể vỡ và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn tồn tại, và ánh sáng có thể phát hiện trở lại nếu ta đặt vào đấy một bóng đèn khác. Cũng như thế, sự tan ră của thể xác không làm xáo trộn luồng nghiệp lực, và sự chấm dứt của thức hiện tại dẫn đến sự phát sanh mới. Tuy nhiên, không có ǵ trường tồn bất biến, như một thực thể đơn thuần, “chuyển” từ hiện tại sang tương lai.

Trong trường hợp nêu trên, nếu người chết tái sanh trở lại vào cảnh người, chập tư tưởng cuối cùng tất nhiên là một loại tâm thiện. Thức-tái-sanh là từ tâm thiện ấy phát sanh, tự nhiên chuyển đến cái trứng và tinh trùng tương xứng trong cảnh người.

Như thế có nghĩa là cho đến lúc chết, luồng nghiệp lực vẫn luôn luôn trôi chảy, không có một điểm thời gian gián đoạn. Ngay lúc chết những chập tư tưởng vẫn liên tục kế tiếp như trong đời sống.

Hiện tượng chết và tái sanh diễn ra tức khắc, dầu ở bất cứ nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào. Phật giáo thuần túy không chủ trương có linh hồn người chết tạm trú ở một nơi nào, chờ đến khi t́m được một nơi thích hợp để đầu thai.”

Trên đây là quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy, hay c̣n gọi là Nam Tông, trích trong cuốn Đức Phật và Phật Pháp do Ḥa Thượng Narada biên soạn.

Về phía Phật giáo Bắc Tông, hay c̣n gọi là Đại Thừa, th́ quan niệm rằng không hẳn là tất cả mọi người sau khi chết đều tái sinh ngay lập tức. Trường phái này cho là những người có nghiệp rất thiện th́ ngay sau khi chết sẽ sanh vào các cơi Tịnh, thí dụ cơi Tây Phương Tịnh Độ, Đông Phương Tịnh Độ, vân vân, và những người có nghiệp rất ác th́ sau khi chết sẽ sanh ngay vào các cảnh giới ác, như Địa Ngục, Ngạ Quỷ hoặc tái sinh thành các loài súc sinh. Trường hợp đó gọi là “chết đây sinh kia”.

Ngoài các trường hợp đó, sau khi chết, người ta có thể c̣n lưu tâm thức lại một thời gian trong trạng thái gọi là Thân Trung Ấm, và mơ màng trong cảnh giới này từ 1 lần 7 ngày, cho tới 7 lần 7 ngày, là 49 ngày. Trong thời gian đó, nhất là 21 ngày đầu, người đă qua đời vẫn c̣n có ấn tượng mạnh mẽ về kiếp sống vừa qua. Và chính từ niềm tin này, người ta coi trọng sự cầu nguyện để giúp chuyển hóa tâm trạng người chết khiến cho thần thức của họ ḥa nhập được vào các cơi an lành.

Như vậy th́ cả hai truyền thống Phật giáo, Bắc Tông và Nam Tông đều không nói đến những h́nh thức cúng kiếng cho người đă chết từ lâu, hàng năm trời, mà chỉ có thể giúp cho người mới chết, qua những lời khai thị, những bài kinh, thốt lên từ tấm ḷng chí thành thanh tịnh của chư vị chân tu và thân nhân, hy vọng thần thức của Thân Trung Ấm cảm được, mà tiêu dung được các tâm niệm xấu, cởi mở được các nỗi oán hờn.

Nhà Phật quan niệm rằng các loài hữu t́nh chúng sinh tiếp xúc được với thế giới bên ngoài là nhờ ở ba thành phần, gọi là “bộ ba Căn, Trần cảnh và Thức”.

Căn, là bộ phận cơ thể,

Trần cảnh, là đối tượng nhận thức của Căn

Thức, là phần tâm thức vô h́nh, vốn từ Chân Tâm vọng khởi mà chuyển thành, cũng tràn ngập khắp không gian như Chân Tâm, là cầu nối giữa Căn và Trần cảnh, tức là cầu nối giữa bộ phận cơ thể của chúng sinh và thế giới mà chúng sinh nhận thức, “cảm” hoặc “thấy” được.

Đối với một cơ thể đă chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đă ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đă mất một phần, thế th́ những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.

Có người cho rằng sau khi đă qua đời, người chết vẫn c̣n ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đă biết, Thức vốn vô h́nh, nếu có Thức thực th́ cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất. Nếu quả thật là c̣n có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, th́ chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!

Sau đây là câu hỏi thứ hai:

“ Nếu nhờ cầu xin mà được, vậy th́ không cần siêng làm các điều thiện, cứ thoải mái làm các việc ác, miễn sao có nhiều tiền, khi chết nhờ quư tăng ni làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ, phải không ạ.

Mẹ chúng tôi th́ tin tuyệt đối vào khả năng “làm Phật sự độ chúng sinh” của các thầy, nên không niệm Phật tụng kinh, chỉ đến chùa làm công quả những ngày cuối tuần, cho là khi chết sẽ có các thầy lo”.

Đáp:

Để hiểu rơ hơn về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ”, chúng tôi xin gửi tới quư vị lời giải thích ghi trong bộ Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành, như sau:

…” … Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo ḥa thượng Đạo An, vốn không phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Đường.

Điều này có thể đúng v́ theo sử chép, th́ năm 738, vua Đường Huyền Tông đă ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nh́ của vua Huyền Tông). Đó là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ư nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương.

Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau th́ quân triều đ́nh dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người chết — chiến sĩ của cả hai bên và thường dân –, nhiều vô kể. Triều đ́nh bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đă chết trong cuộc chiến vừa qua, đồng thời an ủi các gia đ́nh nạn nhân.

Dân chúng thấy triều đ́nh làm như thế, bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư tăng tụng kinh siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”

Nhân đây, chúng tôi cũng xin kính gửi tới quư thính giả quan điểm của lăo pháp sư Tịnh Không về vấn đề “làm Phật sự độ chúng sinh” và niềm tin “làm lễ cầu siêu là sẽ được siêu độ” này.

Lăo ḥa thượng Tịnh Không là một vị cao tăng Trung Hoa đương thời, rất có uy tín, với một quá tŕnh giảng kinh thuyết pháp gần năm chục năm. Ngài là người đi tiền phong trong việc sử dụng hệ thống truyền thanh, truyền h́nh vệ tinh, mạng lưới thông tin toàn cầu và những phương tiện truyền thông hiện đại khác trong việc truyền bá Phật pháp trên khắp thế giới. Trong giới tu hành, nhiều người suy tôn ngài như một vị Tổ của tông Tịnh Độ. Ngài nói:

“Trong Phật pháp, nói Phật sự là giúp đỡ tất cả chúng sinh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui, những sự việc này đều gọi là Phật sự.

Vậy c̣n hiện nay th́ sao?

Hiện nay th́ thời gian tiếp xúc với kinh điển cơ hồ ít hơn, nh́n thấy trong cửa Phật phần nhiều đều là lấy kinh sám “Phật sự siêu độ người chết”, cho rằng đây là Phật sự. Cho nên vừa nghe nói đến tiếng “Phật sự” là rất dễ sinh ra hiểu lầm. Những việc siêu độ vong linh này ở trong Phật giáo xuất hiện rất trễ …, rất trễ. Thời xưa ở Ấn Độ chẳng có. Khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc, lúc ban đầu cũng chẳng có. Vậy sự việc này xảy ra như thế nào?

Năm trước, trong buổi Phật học giảng tọa tại trường Đại Học ở Đài Loan do lăo pháp sư Đạo An chủ tŕ, đă có một sinh viên nêu vấn đề này ra để hỏi lăo pháp sư. Hôm đó tôi cũng có mặt nên cũng đă có nghe. Lăo pháp sư nói rằng sự việc này có thể là bắt nguồn từ giữa niên hiệu Khai Nguyên triều đại nhà Đường. Vào thời gian đó, có loạn An Lộc Sơn tạo phản, giặc giă nổi lên khắp nơi. Nhờ có danh tướng Quách Tử Nghi tài giỏi mới b́nh định được nội loạn.

Khi an ninh đă được văn hồi, nghĩ tới những linh hồn chết thảm c̣n vất vưởng lang thang nơi đồng hoang cỏ cháy không ai thờ cúng, triều đ́nh cho xây tại mỗi băi chiến trường một ngôi chùa đều lấy tên niên hiệu Khai Nguyên để đặt làm tên, rồi thỉnh quư vị cao tăng từ khắp các nơi về các chùa Khai Nguyên này để tụng kinh cầu siêu độ cho các vong hồn. Từ đó, tại mỗi băi chiến trường lớn đều có một chùa Khai Nguyên. Nguồn gốc Khai Nguyên Tự như lăo pháp sư Đạo An đă nói, là do triều đ́nh đề xướng, mở hội truy điệu, thỉnh những vị cao tăng đại đức tụng kinh cầu siêu độ.

Từ đó về sau, trong dân gian, khi gia đ́nh có người qua đời, th́ cũng thỉnh mời tăng ni đến tụng kinh cầu siêu. Như vậy là đối với Phật pháp, đây chính là việc phụ thêm, chẳng phải là công việc chủ yếu của Phật môn, chẳng phải !

Nhưng hiện nay th́ nó lại đă trở thành chủ yếu mất rồi ! Hiện nay tại rất nhiều đạo tràng, người ta lấy việc này làm công tác chủ yếu. Cho dù có giảng kinh th́ thời gian làm Phật sự chính yếu này cũng rất ngắn, rất ít. Có những chùa một năm giảng kinh bốn lần, trong bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa giảng một tuần, một năm giảng bốn tuần, chia cho bốn mùa. Cho nên Phật sự chính thức là giảng kinh thuyết pháp để chuyển mê khai ngộ cho dân chúng th́ lại đă biến thành việc phụ, c̣n việc bái sám, cầu siêu đă biến thành “Phật sự” chủ yếu mất rồi. Điều này chúng ta phải có nhận thức rơ ràng, vào thời trước, Phật sự là giảng kinh thuyết pháp”

Đối với việc cúng bái cầu siêu, chúng tôi xin nhắc lại ư kiến mà chúng tôi đă đề ra trong một kỳ trước, rằng người Đông Phương chúng ta, từ thời xa xưa, vốn đă có truyền thống cúng bái người đă qua đời, nhất là cúng bái tổ tiên, ông bà, cha mẹ, coi như một h́nh thức báo hiếu, trước là nói lên ḷng thành kính tưởng nhớ chư vị đă khuất, sau là nhắc nhở con cháu nên tiếp nối mỹ tục biết cảm ơn các bậc sinh thành, cũng như mỗi quốc gia đều có những ngày kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong, để nói lên ḷng nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước vậy.

Chúng ta có từ ngữ “Đạo Ông Bà”, nghĩa là theo truyền thống từ thời xa xưa, khi ông bà, cha mẹ, thân nhân qua đời, gia đ́nh đem h́nh ảnh và bát hương bày lên bàn thờ, quanh năm hương khói, đến ngày giỗ th́ làm cơm cúng, đó là tập tục của hầu hết những dân tộc Đông Phương, nhất là tại những quốc gia ảnh hưởng đạo Khổng.

Như vậy, theo phong tục cổ truyền, việc cúng giỗ cũng là điều tốt, coi như là ngày kỷ niệm, tưởng nhớ người đă khuất. Chúng ta có thể tổ chức cúng giỗ tại nhà, hoặc tại chùa. Nếu đủ phương tiện để có thể làm lễ trên chùa th́ rất tốt. Trước nhất, đây là một duyên lành giữa thân nhân người chết đối với nhà Phật, có dịp cho họ tiếp cận với các vị Sư, nhân đó, có thể hiểu thêm về Phật pháp. Thứ nữa là thân nhân người chết có thể tạo chút phước qua việc cúng dường Tam Bảo, để nhà chùa có thêm khả năng ấn tống kinh sách, phổ biến Phật pháp rộng răi, thêm phương tiện để hoàn thành các Phật sự. Các vị Sư là những Trưởng Tử Như Lai, là những Đạo Sư, có nhiệm vụ hoằng dương Chánh Pháp song song với việc tu tập bản thân.

Phật tử cũng vậy, cũng cần tu tập bản thân và giúp phương tiện cho các Đạo Sư trong công cuộc hoằng truyền và bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật.



Liên Hương (ĐPK)
Nguồn: Thư viện Hoa Sen
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #559
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Ư Nghĩa của Cuộc Sống

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ



Thời gian thấm thoát trôi nhanh, năm cũ sắp hết, năm mới sắp sang. Trước thềm năm mới, chúng ta hăy dành ít phút để suy tư, quán niệm: chúng ta đă làm ǵ cho cuộc đời ḿnh được ích lợi, trên phương diện thế gian và xuất thế gian, trong năm vừa qua và những năm trước đó?

Đồng thời chúng ta cũng thử bàn về vấn đề "Ư nghĩa của cuộc sống", để có một nhận định đúng đắn cho cuộc đời của chúng ta từ đây về sau, trên bước đường tu học theo đúng Chánh Pháp.

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, từ phương đông sang đến phương tây, từ Châu Á sang đến Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Úc, khi bàn về vấn đề ư nghĩa của cuộc sống, bằng cách này hay cách khác, mọi người luôn luôn bày tỏ niềm mơ ước một cuộc sống có ư nghĩa, một cuộc sống lư tưởng.

Nhưng thế nào là cuộc sống lư tưởng,
thế nào là cuộc sống có ư nghĩa?

Làm sao xây dựng cuộc sống lư tưởng,
làm sao xây dựng cuộc sống có ư nghĩa?

Trải qua nhiều thế kỷ, xuyên qua nhiều địa phương khác nhau, nhiều người có những quan niệm, những quan điểm, những ư kiến khác nhau về vấn đề này.

Chẳng hạn như có người quan niệm là phải có nhiều tiền của, mới có cuộc sống lư tưởng và cuộc sống mới có ư nghĩa. Tại sao vậy? Bởi v́ có nhiều tiền của, con người mới có thể làm được nhiều việc ích lợi cho bản thân và cho mọi người theo như ư của ḿnh mong muốn. Sách có câu: "Có tiền mua tiên cũng được", chính là nghĩa đó vậy.

Chẳng hạn như có người quan niệm rằng phải có nghề nghiệp chuyên môn, phải có công ăn việc làm vững chắc, mới có cuộc sống lư tưởng và cuộc sống mới có ư nghĩa. Tại sao vậy? Bởi v́ có nghề nghiệp chuyên môn, con người mới có thể giúp ích cho bản thân và cho xă hội một cách hiệu quả hơn, một cách tích cực hơn.

Chẳng hạn như có người quan niệm là phải có gia đ́nh hạnh phúc, mới có cuộc sống lư tưởng và cuộc sống mới có ư nghĩa. Tại sao vậy? Bởi v́ dù có nhiều tiền, dù có nghề nghiệp chuyên môn, dù có việc làm vững chắc, nhưng gia đ́nh không hạnh phúc th́ cuộc sống không thể gọi là lư tưởng, không thể gọi là có ư nghĩa được. Thực là thiên h́nh vạn trạng, muôn h́nh muôn vẻ, mỗi người một ư, mười phân vẹn mười!



* * *


Trong phạm vi bài này, chúng ta thử bàn qua các quan niệm trên đây, nhất là nghiên cứu ư nghĩa của cuộc sống qua giáo lư của đạo Phật, đối với đời sống của người Phật Tử tại gia b́nh thường.

Trước hết, chúng ta thử xét qua các quan niệm phổ thông về cuộc sống lư tưởng hay cuộc sống có ư nghĩa.

Thế nào là cuộc sống có ư nghĩa

1) Sống lợi ḿnh lợi người là cuộc sống có ư nghĩa.

Những việc ǵ ḿnh không muốn người khác làm cho ḿnh, th́ ḿnh đừng làm như vậy cho người ta. Chẳng hạn như ḿnh không muốn bị người khác quấy rầy, không muốn đời tư bị bươi móc, th́ ḿnh đừng làm như vậy cho người ta. Chẳng hạn như ḿnh không thích bị ai phê b́nh, chỉ trích, khinh khi, phỉ báng, th́ ḿnh đừng vạch lá t́m sâu, bới bèo t́m bọ, viết thư nặc danh, hăm dọa chửi bới người ta. Phải nên biết rằng: gieo nhân nào gặt quả nấy, đong đấu nào nhận đấu nấy!

2) Sống không ưu tư, không phiền năo trong mọi hoàn cảnh là cuộc sống có ư nghĩa.

V́ áp lực của cuộc đời thường đè nặng trong tâm tư, chúng ta bị ngoại cảnh chi phối quá nhiều, ngày ăn không ngon, đêm ngủ chẳng yên. Lúc thịnh th́ vui, lúc suy th́ buồn. Lúc nhục nhă th́ bực, lúc danh dự th́ khoái. Lúc xưng tán th́ thích, lúc phê phán th́ quạu. Lúc khổ th́ than, lúc hân hoan th́ chịu! Nở được nụ cười nhẹ nhàng, vô ưu, trầm tĩnh, trong mọi hoàn cảnh giúp chúng ta sống cuộc đời có ư nghĩa. Nụ cười thương yêu, nụ cười có ư thức bao giờ cũng đẹp đẽ và thường giúp con người sống cuộc đời có ư nghĩa một cách mầu nhiệm khó thể nghĩ bàn.

3) Sống trong tỉnh thức là cuộc sống có ư nghĩa.

Chúng ta biết ḿnh thực sự là ai, biết ḿnh thực sự đang làm ǵ, biết ḿnh thực sự đang nói ǵ, biết ḿnh thực sự đang nghĩ ǵ.

Chúng ta thường mang cái áo đời danh lợi, cho nên quên "con người chân thật" của ḿnh, luôn luôn sống trong ảo tưởng. "Con người chân thật" là con người luôn luôn sống trong tỉnh thức, kiểm soát được hành động, lời nói và tư tưởng, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, tŕnh độ, xuất xứ, đời sống, dân tộc. Sống trong tỉnh thức nghĩa là phải có chánh kiến, theo chánh tư duy, giữ ǵn chánh ngữ, thực hành chánh nghiệp, sống với chánh mạng, có chánh tinh tiến, luôn luôn chánh niệm, có được chánh định.

4) Sống trong an lạc và hạnh phúc là cuộc sống có ư nghĩa.

Cuộc sống không dính mắc, không sân hận, không si mê, không phiền năo, không chấp chặt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh chấp, không hơn thua, không bon chen, không đua đ̣i. Khi có người mang lửa đến đốt, chúng ta đừng đưa bổi ra đón, th́ sẽ không bị đốt cháy. Nghĩa là nếu bị người chửi mắng, hay khi nhận được thư, dù nặc danh hay chính danh, nặng lời nhục mạ, chúng ta không nổi cơn sân, dù ngoài mặt hay trong ḷng, th́ chúng ta được b́nh yên vô sự. Chúng ta không có được những ǵ ḿnh thích, th́ hăy thích những ǵ ḿnh có. Được như vậy, ngày ăn ngon tối ngủ yên, và chắc chắn chúng ta sống cuộc đời an lạc và hạnh phúc.

5) Sống an trú trong hiện tại là cuộc sống có ư nghĩa.

Chúng ta thường luyến nhớ quá khứ, mơ tưởng tương lai. Sống trong cuộc đời hiện tại, chúng ta nên biết rằng "ḿnh đang sống", đang hít thở không khí, đang ở trong chánh niệm, sống với thiện tâm, sống không tà niệm. Được như vậy, tâm của chúng ta như ḍng nước trong mát, không vướng bụi trần, không vương phiền năo. B́nh an dưới thế cho người thiện tâm.

Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:

Quá khứ tâm bất khả đắc,
hiện tại tâm bất khả đắc,
vị lai tâm bất khả đắc.

Nghĩa là chuyện quá khứ cảm giác đă qua đi, không nên nhớ nữa, chuyện hiện tại thấy đó rồi mất đó, cảm giác nào rồi cũng qua mau, không có ǵ tiếc nuối, chuyện tương lai chưa đến, đừng lo lắng ưu tư phiền muộn, chỉ khiến cuộc đời thêm phức tạp phiền năo mà thôi.

6) Sống trong giác ngộ và giải thoát là cuộc sống có ư nghĩa.

Chúng ta muốn có cuộc sống ư nghĩa, b́nh yên, phẳng lặng, an lạc và hạnh phúc, chúng ta phải biết quán sát chân lư, nhận chân lẽ thực, thấy được thực tướng của vạn hữu. Chúng ta muốn có cuộc sống ư nghĩa, th́ nên biết rằng, chúng ta sinh ra đời để trả hết các nợ đă vay, đă tạo tác từ nhiều tiền kiếp, đừng tạo thêm nghiệp mới, chấm dứt sinh tử luân hồi, không si mê, không mơ tưởng, không van xin, không mong cầu. Chúng ta phải sáng suốt nhận định rơ ràng: cuộc đời khổ nhiều vui ít.

Cho nên, chấp nhận cuộc đời là chấp nhận: sinh lẫn diệt, c̣n lẫn mất, được lẫn thua, khen lẫn chê, vui lẫn buồn. Chấp nhận cuộc đời là chấp nhận: có làm có hưởng, có làm có chịu, sinh sự sự sinh, gieo gió gặt băo. Chấp nhận cuộc đời là chấp nhận: nay c̣n mai mất, nay xấu mai tốt, nay bạn mai thù, chuyển biến không ngừng. Cần phải có thời gian tu tập thực nghiệm lâu dài, cần phải có công phu quán chiếu bền bỉ, cần phải có ư chí mạnh mẽ, nghị lực vững vàng, để chuyển hóa cuộc đời từ phiền muộn, ưu tư, lo âu, sợ hăi, trở thành hoan hỷ, vui vẻ, thanh thản, tự tại. Được như vậy, chúng ta sẽ giải thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi.

Làm sao xây dựng cuộc sống có ư nghĩa

Để có được một cuộc sống có ư nghĩa, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, giữ tâm b́nh thường, thản nhiên, tự tại trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tư thế, trong mọi hành động, trong mọi lời nói, trong mọi ư nghĩ.

Trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tư thế, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù thân hay thù, dù vui hay khổ, dù oan hay ưng, dù đúng hay sai, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, vẫn giữ tâm b́nh thường, không xao động, không khởi niệm. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta biết ḿnh đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi. Làm việc ǵ tập trung tinh thần vào việc đó, không xao lăng, không lo ra.

Được như vậy, chúng ta không gặp tai nạn nghề nghiệp, có thể làm xong công việc một cách tốt đẹp và chúng ta có một cuộc sống ư nghĩa.

Trong mọi hành động, chúng ta phải luôn luôn không nên làm tổn thương đến người và vật. Trong mọi lời nói, chúng ta luôn luôn giữ ǵn khẩu nghiệp, không nói những lời làm tổn thương đến mọi người, dùng lời nói chuyên chở t́nh thương, những khi cần thiết mang lại ánh sáng chân lư, giảng giải giáo lư cho mọi người được gội nhuần nước cam lồ tươi mát. Trong mọi ư nghĩ, chúng ta phải luôn luôn giữ ǵn chánh niệm, không theo các tạp niệm dong ruỗi bốn phương, không để tâm theo việc thương ghét thân thù, giữ tâm b́nh thường, bất tùy phân biệt, không kỳ thị, không thành kiến, luôn luôn chăn trâu kỹ lưỡng, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người.

Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân nổi lên, chúng ta phải tỉnh thức, biết ngay và buông bỏ, không theo.
Chúng ta không nên để các vọng tâm tham sân đó xúi giục làm điều xằng bậy.

Được như vậy chúng ta có cuộc sống ư nghĩa và lư tưởng, đồng thời mới có thể giúp mọi người chung quanh sống đời có ư nghĩa vậy.

Trong cuộc đời trên thế gian này, muốn cuộc sống có ư nghĩa, chúng ta nên thường xuyên quán chiếu rằng: ḿnh đă để cho cuộc đời của ḿnh trôi qua trong quên lăng đă bao nhiêu ngày tháng năm rồi? Hăy thử lắng ḷng nghiệm xét xem: ḿnh đă làm ǵ cho đời ḿnh, ngoài những việc làm kiếm tiền sinh sống và giải trí vui chơi?

Để biết nh́n đời cho đúng ư nghĩa, trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: "Từ nhăn thị chúng sanh".

Nghĩa là muốn cuộc sống có ư nghĩa, chúng ta cần nh́n tất cả mọi người với con mắt từ bi hỷ xả. Chúng ta nên biết thương người cũng như thương chính ḿnh, cảm thông nỗi khổ đau của người như nỗi khổ đau của chính ḿnh, đừng làm khổ người, dù là kẻ thù, cũng vậy.

Sách có câu:

"Mắt thương nh́n cuộc đời",

chính là nghĩa đó vậy.

Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật dạy:

Muốn cuộc sống có ư nghĩa, hăy mặc áo Như Lai, ở nhà Như Lai và ngồi ṭa Như Lai.

Nghĩa là trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn luôn "mặc áo nhẫn nhục" của Như Lai, tức là nhẫn mà không thấy nhục, để ứng xử trong cuộc đời đầy phiền năo và khổ đau, không nên gây thêm phiền năo và khổ đau cho mọi người. Để có thể thực hành được hạnh nhẫn nhục đến độ rốt ráo tột cùng, trong kinh sách gọi là ba-la-mật, chúng ta cần an trú trong "căn nhà đại từ đại bi" của Như Lai.

Có được tấm ḷng đại từ đại bi của Đức Phật, chúng ta mới có thể nhẫn nhục được, không nỗi sân hận, hay tức giận khi bị người chửi rủa, mắng nhiếc, nhục mạ, vu oan, thưa kiện. Và cuối cùng, sau khi nhẫn nhục được rồi, phát triển tâm từ bi được rồi, làm tất cả mọi việc phước thiện rồi, chúng ta luôn luôn nhớ ngồi trên "ṭa pháp không" của Như Lai, tức là chúng ta quên hết mọi việc tốt đẹp đă làm, để ḷng kiêu mạn không phát khởi, để luôn luôn giữ "tâm b́nh thường" trong từng sát na vậy. Thực hiện được ba điều Đức Phật dạy trên đây, dù đang sống trên thế giới ta bà khổ này, chúng ta vẫn an nhiên tự tại với tâm b́nh thường và cuộc sống mới có ư nghĩa thực sự vậy.

Chúng ta cùng suy ngẫm câu chuyện sau đây:

Một hôm hai vị sư huynh đệ có việc cùng xuống núi. Khi xong việc trở về đến bên một con suối, hai vị thấy một cô gái ăn mặc đàng hoàng, đang lúng túng chưa biết cách nào lội qua suối. Sau khi hỏi qua cớ sự, vị sư đệ liền bồng cô gái đưa giùm qua suối.

Trên suốt quăng đường c̣n lại, vị sư huynh lầu bầu, cằn nhằn sư đệ đă đụng chạm cô gái, như vậy là phạm giới, đó là những việc không nên làm. Vị sư đệ cứ b́nh thản bước đi, im lặng, không đối đáp.

Lúc về tới cổng chùa, vị sư huynh vẫn c̣n tiếp tục lải nhải, v́ tưởng rằng sư đệ lặng yên, nghĩa là nhận tội đă làm.

Cho đến lúc đó, vị sư đệ mới thốt nên lời:

"Đệ đă bỏ cô gái ấy lại bên bờ suối từ lâu rồi, tại sao huynh vẫn c̣n cơng cô ta về đến đây vậy?"

Qua câu chuyện này, chúng ta nghiệm xét hai điều:

Một là, người sống với chánh niệm thường im lặng, không tranh căi, không thị phi, không đính chính, oan ức không cần biện bạch, v́ biện bạch là nhân ngă chưa xả, lấy oan ức làm cửa ngơ đạo hạnh.

Hai là, trong cuộc sống thường ngày, sau khi đi làm hay đi chơi, chúng ta cơng không biết bao nhiêu là nhân vật về nhà, có khi c̣n cơng luôn lên giường ngủ nữa là khác!

Bởi vậy cho nên, chúng ta chứa biết bao nhiêu là h́nh bóng, người thương kẻ thù, trong kho tàng tâm thức của chúng ta. Nhân dịp cuối năm, chúng ta thường dọn kho chứa đồ đạc cho sạch sẽ, luôn tiện hăy dọn dẹp kho tàng tâm thức cho trống trải.

Được vậy cuộc sống chúng ta sẽ bớt phiền năo và khổ đau. Từ đây, cuộc sống mới có ư nghĩa vậy.

Tóm lại, mặc dù được xem như là một tôn giáo, nhưng đạo Phật không phải chỉ có các h́nh thức cúng kiến, nghi lễ và người theo đạo Phật không bắt buộc phải có ḷng tin, không bắt buộc phải có đức tin, không bắt buộc phải nhắm mắt tin theo, cúi đầu chấp nhận, bất cứ điều ǵ, dù được ghi chép trong kinh điển, khi lư trí chưa chấp nhận.

Người Phật Tử nương theo giáo lư của Đức Phật để làm phương tiện chuyển hóa đời ḿnh, từ phiền năo sang an lạc, từ khổ đau sang hạnh phúc.

Mục đích tối hậu, mục đích cứu kính, mục đích tột cùng của Phật giáo vẫn là chỉ bày phương pháp rèn luyện tâm tánh, phương pháp tu tâm dưỡng tánh, để giúp con người sống được với "con người chân thật" của ḿnh, chứ không phải sống với cái tấm thân tứ đại nặng nề đ̣i hỏi đủ thứ chuyện, chứ không phải sống với cái tâm hồn thay đổi liên miên, sai xử đủ thứ việc, để giúp con người bớt được phiền năo và khổ đau hiện đời, được an lạc và hạnh phúc, được Niết-bàn hiện tiền, giải thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi.

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:

Chư hành vô thường. Thị sinh diệt pháp.
Sinh diệt diệt dĩ. Tịch diệt vi lạc.

Nghĩa là mọi việc trên đời đều vô thường, không tồn tại lâu dài, kể cả tấm thân tứ đại nặng nề mấy chục kư lô, cùng với cái tâm lăng xăng lộn xộn của chúng ta, tất cả đều là những pháp sinh diệt, những thứ sinh ra rồi sẽ diệt đi, không tồn tại vĩnh viễn, không có ǵ phải quan trọng. Nếu quan trọng cái thân và cái tâm sinh diệt th́ con người sẽ sống trong phiền năo và khổ đau.

Điều quan trọng chính là làm sao cho tâm lăng xăng lộn xộn sinh diệt đó lặng đi, không c̣n nữa, tức là chúng ta không c̣n tham lam nữa, chúng ta không c̣n nổi sân nữa, chúng ta không c̣n si mê nữa, khi đó cảnh giới tịch diệt hiện tiền, ngay trước mắt, đó mới thực là vui, đó chính là Niết-bàn, là cực lạc vậy.

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt hiện tiền",
chính là nghĩa đó vậy.

Nói chung, Phật giáo có mục đích giúp con người sống trong tỉnh thức, biết ḿnh đang thực sự sống một cuộc đời có ư nghĩa, một cuộc đời lư tưởng vậy.











http://phtq-canada.blogspot.com/2018...cuoc-song.html
florida80_is_offline   Reply With Quote
Old 3 Weeks Ago   #560
florida80
florida80's Avatar
 
R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Aug 2007
Posts: 46,926
Thanks: 3,578
Thanked 25,830 Times in 4,968 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 507 Post(s)
Rep Power: 62
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8florida80 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 82794
Default

Người Nhân Cách Càng Lớn Càng Không Tranh Giành,
Trí Tuệ Càng Cao Càng Không Tham Lam








Người có nhân cách lớn thường là người hiểu rơ bản thân ḿnh là ai, ḿnh ở đâu và điều ḿnh muốn là ǵ? Khi một người biết được chính xác bản thân mong muốn một cuộc sống như thế nào, họ sẽ lựa chọn con đường đi đúng đắn, dùng toàn tâm sức vào việc sửa đổi chỗ thiếu sót bản thân, đưa tâm hồn thăng hoa lên cảnh giới mới và tiến thẳng về phía trước.

Người như vậy càng là người không lười biếng, không tranh giành hơn thua, lại càng không v́ những điều gièm pha của người khác mà làm lung lay ư chí của ḿnh.

Nhân cách càng lớn càng không tranh giành

Cũng giống như Vương Dương Minh từng nói trong Truyền Tập Lục: “Tŕ chí như tâm thống”, (ư chí như tâm đang đau), một người đang đau thử hỏi c̣n tâm trí đâu mà để ư đến nói chuyện phiếm, tâm trí đâu để mà quan tâm những việc khác? Người có nhân cách lớn làm việc cũng lại như thế, họ luôn kiên thủ chí hướng của ḿnh, thời thời khắc khắc đều đặt tâm trí vào mục tiêu ḿnh muốn.

Khi Tăng Quốc Phiên mới nhậm chức tại Hàn Lâm viện, cấp trên của ông là Triệu Tập có phụ thân đến kinh thành thăm con nên mời mọi người đến dùng tiệc. Khi đó Tăng Quốc Phiên mới làm quan, bổng lộc không nhiều, cuộc sống hàng ngày cũng thanh đạm. Hơn nữa Tăng Quốc Phiên không ưa thích những việc xu nịnh hay kiếm cớ phát tài nên khéo léo từ chối không đi. Cũng v́ nguyên nhân này mà ông đă đắc tội với Triệu Tập.

May thay sau đó, Tăng Quốc Phiên được thăng quan nhiều cấp, làm quan lớn hơn so với Triệu Tập, nhờ đó mà thoát nạn.

Tuy nhiên, ngày đẹp chẳng đáng là bao, Tăng Quốc Phiên lại bị giáng chức, lần này lại quay về làm cấp dưới của Triệu Tập.

Đương thời, Tăng Quốc Phiên bị bệnh mụn mọc ngoài da tái phát, sự t́nh nghiêm trọng, hàng ngày không thể ngồi lâu nên xin phép Triệu Tập cho nghỉ ở nhà dưỡng bệnh. Thật không dễ dàng ǵ mới có được cơ hội trả thù, nên đương nhiên Triệu Tập không những không đồng ư mà c̣n t́m cớ để trù dập Tăng Quốc Phiên:

“Ông vừa mới giáng chức đă muốn nghỉ phép, phải chăng không coi bản quan ra ǵ? Phép của ông tôi không duyệt”.

Tăng Quốc Phiên chỉ đành ôm bệnh đi làm.

Hàng ngày, chỉ cần có chút cơ hội là Triệu Tập liền t́m cách trù dập Tăng Quốc Phiên, không những vậy Triệu Tập c̣n đi khắp nơi nói xấu ông, ngay cả đồng nghiệp cũng v́ thế mà không xem ông ra ǵ. Tuy nhiên, tất cả mọi chuyện Tăng Quốc Phiên đều không để trong ḷng, luôn coi như không có ǵ xảy ra, hàng ngày vẫn chuyên tâm làm tṛn bổn phận của ḿnh.






Sau này, khi Tăng Quốc Phiên lại được thăng quan tiến chức, làm nên đại nghiệp, có vô số cơ hội để báo thù, nhưng ông trước sau như một, không hề nhắc lại chuyện xưa. Đây chính là người càng có đại nhân cách càng không nhớ thù người khác.

Tăng Quốc Phiên nói:

''Kẻ sĩ có ba điều không làm: Một là không đấu danh với quân tử, hai không đấu lợi với tiểu nhân, ba là không đấu sự khéo léo, tài năng với trời đất.''

Đối với kẻ tiểu nhân mà nói, nếu như chúng ta đấu hơn thua, được mất với họ th́ chỉ tốn công hại mệnh vô ích, cũng giống như tự t́m phiền phức cho ḿnh. Cách tốt nhất lúc này là không so đo với họ làm ǵ.

Không tranh giành, không ḱ kèo so đo với người khác, làm được như vậy ắt sẽ không có kẻ thù, cũng không khiến người khác ghen ghét. Làm người không tranh giành, không ḱ kèo so đo, ắt cũng giảm bớt được thời gian vào những việc vô ích, tinh lực dành cho việc ḿnh theo đuổi.

Cũng v́ không bận tâm chấp nhặt với kẻ tiểu nhân, không so đo, tranh giành, để bụng với những điều nhỏ nhặt mà Tăng Quốc Phiên đă làm nên kỳ tích. Trong ṿng 9 năm ông liên tiếp được thăng 10 cấp quan phẩm, trở thành một vị quan mẫu mực nổi tiếng.

Trí huệ càng cao càng không tham lam

Truyện kể rằng, trước đây có một người nông dân nghèo khổ, một hôm anh ta cứu mạng một con rắn. V́ để đền ơn cứu mạng ḿnh, con rắn đă thoả măn mọi yêu cầu của người nông dân. Lúc đầu người nông dân yêu cầu có lương thực đầy đủ, con rắn liền đáp ứng; sau đó người nông dân lại yêu cầu được làm quan, rắn kia cũng thoả măn nhu cầu. Sau rồi người nông dân kia cứ măi đ̣i hỏi cho đến khi làm tể tướng, rồi đến làm hoàng đế. Con rắn lúc này mới minh bạch được rằng: “Ḷng tham của con người là vô đáy, không có giới hạn”, vậy nên con rắn liền ăn luôn vị tể tướng.

Câu chuyện cho ta thấy một điều, làm người th́ đừng quá tham lam, bởi tham lam chính là căn nguyên của rất nhiều sai lầm. “Mật ngọt chết ruồi”, ruồi tham ăn mật ngọt để rồi cuối cùng lại ch́m trong hũ mật mà chết. Và cũng có một số người, v́ có một mà muốn có hai, có rồi lại muốn có hơn, dục vọng về vật chất, tiền tài danh vọng không ngừng lớn thêm, cuối cùng lại đánh mất luôn cả bản thân ḿnh.






Có người từng nói, tham lam chính là một loại bệnh tâm thần, một loại bệnh khuyết tật. Nó chính là một loại bệnh thái, lẽ nào không phải là bệnh thái sao? Tham lam chính là chiếc b́nh không đáy, không thể nào lấp đầy nó được, chỉ có cách là cai bỏ nó đi, bỏ đi những thứ dư thừa không cần thiết. Chính v́ những thứ đó là nguyên nhân khiến chúng ta không thể có được hạnh phúc chân chính, mà c̣n cản trở con đường ta t́m đến hạnh phúc.

Tham lam cũng chính là nguyên nhân đưa con người từ chỗ thông minh trở thành kẻ ngốc. Khi con người tham lam cũng chính là lúc họ không biết thỏa măn với những ǵ ḿnh đang có, mang những thứ tốt đẹp của ḿnh bỏ đi, đến khi quay đầu th́ mọi chuyện chỉ c̣n lại sự hối hận muộn màng.


Theo Soundofhope
Minh Vũ biên dịch
09/04/2018
-https://www.dkn.tv
florida80_is_offline   Reply With Quote
Reply
Page 56 of 86 « First 6465455 56 575866 Last »

User Tag List

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On


 
iPad Tablet Menu

Announcement

Breaking News

Society News

VietOversea

World News

Business News

Other News

History

Car News

Computer News

Game News

USA News

Mobile News

Music News

Movies News

Sport News

Stranger Stories

Comedy Stories

Cooking Chat

Nice Pictures

Fashion

School

Travelling

Funny Videos


Page generated in 0.23308 seconds with 15 queries