Log in

View Full Version : Bài Chưa Đọc Kỹ : Chuyện nhân quả liên quan tới lịch sử họ Ngô Đ́nh


Hanna
11-09-2014, 16:33
Ông nội của Tổng thống VNCH Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Dinh [có sách chép là Ngô Đ́nh Niệm]. Ông Dinh quê gốc ở đâu không rơ, cuối thế kỷ XIX đời vua Tự Đức di cư tới làng Đợi [tức làng An Xá
Việc này, tôi nghe biết tới đâu ghi lại tới đó như một bài đức dục chứ không như chuyện chính sự.

<table class="tr-caption-container" style="margin-left: auto; margin-right: auto; text-align: center;" align="center" cellpadding="0" cellspacing="0"><tbody> <tr><td style="text-align: center;">http://vietsn.com/forum/attachment.php?attac hmentid=686188&stc=1&d=1415550787</td></tr> <tr><td class="tr-caption" style="text-align: center;">
</td></tr> </tbody></table> Ông nội của Tổng thống VNCH Ngô Đ́nh Diệm là Ngô Đ́nh Dinh [có sách chép là Ngô Đ́nh Niệm]. Ông Dinh quê gốc ở đâu không rơ, cuối thế kỷ XIX đời vua Tự Đức di cư tới làng Đợi [tức làng An Xá] tổng Đại Phong, huyện Phong Lộc [sau đổi thành huyện Lệ Thủy], tỉnh Quảng B́nh, sống bằng nghề làm mướn, vợ chết sớm, chỉ có một trai 6 tuổi. Trong một cơn bệnh, ông qua đời, làng đưa thi hài an táng lại Bến Đẻ một vùng núi ngược ḍng Kiến Giang cách làng Đợi 3km. V́ là dân ngụ cư, không thân thuộc lại nghèo, nên việc mai táng đơn sơ, dân đinh chèo thuyền đưa thi hài ông đến Bến Đẻ th́ trời đă về chiều, đang khiêng thi hài vào núi th́ có tiếng hổ, dân đinh đào vội một huyệt cạnh đường, đặt thi hài lấp đất qua loa rồi chạy. Hôm sau, họ trở lại muốn sửa sang ngôi mộ, th́ lạ thay, nấm đất chiều hôm trước lấp qua loa, nay đă hóa thành một mả mối đùn to như cái g̣. Người đời hay tin, đều cho là mả thiên táng.


Về phương diện phong thủy, ngôi mộ kể trên đă vào vị trí trung điểm của núi sông Lệ Thủy:


- Phía Nam có núi An Mă dẫn về Bến Trấm, Bến Đẻ.
- phía Tây có núi Đầu Mâu hướng về biển Hạc Hải.
- phía Đông Bắc long mạch theo sông Kiến Giang lên Tróc Vực. Ngôi mộ được kết phát nhưng không có người viếng thăm.


Thủa xa xưa, năm 1530, nhà Mạc có 4 vị quan đầu triều th́ 3 vị là người tổng Đại Phong. Mạc Đăng Dung sai thầy địa lư xem thế đất Đại Phong thấy h́nh dáng chim phượng hoàng, là đất phát đế vương, nếu không kịp yểm th́ có cơ lấn át cả triều đ́nh. Mạc Đăng Dung cho đào một con mương cạn dài từ Mũi Viết để “mổ diều” cho phụng chết. Đến thời nhà Lê, thầy địa lư lại phán, phụng bị nhà Mạc mổ diều nhưng chưa chết, đ́nh Đại Phong dựng nơi đầu phụng nên làng này vẫn có khí đế vương. Đất ấy từ xưa đến nay đă có nhiều quan to văn vơ. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp quê Lộc Thủy nằm trong vùng cánh phượng.


Ngô Đ́nh Dinh/Niệm sinh ra Ngô Đ́nh Khả [1850-1925 có sách nói 1857 tôi cho là chưa chính xác]. Khả được 6 tuổi th́ bố mất, Linh mục Caspar [tên Việt là cha Lộc] ở giáo xứ Mỹ Phước nhận nuôi, năm 1870 Michael Ngô Đ́nh Khả được gửi đi học tại Đại chủng viện ḍng Thừa sai Paris ở đảo Penang xứ Malaysia [thời đó c̣n có Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài sang học. Ông Bài sinh năm 1863 mồ côi cha từ lúc 10 tuổi, Linh mục Gioan Châu bảo trợ vào Tiểu chủng viện An Ninh. Sau này, con gái của Bài là Nguyễn Thị Giang, kết hôn với Ngô Đ́nh Khôi con trai trưởng của Khả].


Michael Ngô Đ́nh Khả trở về nước được phân dạy môn triết tại Đại chủng viện Huế, thử thách để lên chức Linh mục, nhưng năm 1878, Ngô Đ́nh Khả rời chủng viện lấy vợ. Người vợ đầu là bà Madeleine Chĩu mất sớm có 1 con trai là Ngô Đ́nh Khôi (1885-1945), sau làm quan triều Nguyễn đến chức Tổng đốc Quảng Nam.


Năm 1889 Ngô Đ́nh Khả tục huyền với bà Anna Phạm Thị Thân sinh được 7 con:
- Ngô Đ́nh Thị Giao (?-1944), tục gọi là bà Thừa Tùng.
- Ngô Đ́nh Diệm c̣n có bí danh Nguyễn Bá Chinh, sinh ngày 27/7/1897 tại tại lệ Thủy. Sau này đổi ngày sinh thành 03/01/1901. Việc này là do ông Diệm không phải con đẻ bà Thân, đổi như vậy để hợp thức hóa vai “em” của Diệm bởi ông Thục là con vợ chính. [Xem các sách Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963, 2000, tr. 110. Xem tiểu sử Thục trong CAOM (Aix), GGI, CP 125; Chính Đạo, Nhân vật chí, 1997:312; Idem., Cuộc thánh chiến chống Cộng, 2004, I:464-65.]
- Ngô Đ́nh Thục (1897-1984) sau thành Giám mục. Cha Thục sinh ngày 6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, sinh sau ông Diệm hơn hai tháng.
- Ngô Đ́nh Thị Hiệp, tục gọi bà Ấm, lấy chồng là Nguyễn Văn Ấm, sinh ra cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận.
- Ngô Đ́nh Thị Hoàng, tục gọi là bà Lễ.
- Ngô Đ́nh Nhu (1910-1963) Cố vấn Tổng thống VNCH
- Ngô Đ́nh Cẩn (1912-1964) Cố vấn Cao nguyên Trung phần VNCH
- Ngô Đ́nh Luyện (1914-1990) Luật sư và Đại sứ VNCH tại Anh, Hà Lan, Bỉ.


Do có khả năng ngoại ngữ nên Khả được Linh mục chính xứ Phú Cam là Cha Eugène Marie giới thiệu công việc thông dịch tiếng Latinh và tiếng Pháp, rồi chuyển sang làm cho Nam triều. Năm 1885, Ngô Đ́nh Khả giữ chức An phủ sứ Quảng B́nh lo việc b́nh định nghĩa quân của phong trào Cần Vương. Tháng 6/1895 được Nguyễn Thân chọn làm phụ tá trong chiến dịch tiễu trừ phong trào Cần Vương và quan Ngự sử Phan Đ́nh Phùng. Khả làm Phó tướng cho Nguyễn Thân đàn áp các sỹ phu văn thân yêu nước hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi. Ngày 28/12/1895 quan Ngự sử Phan Đ́nh Phùng từ trần, 12 ngày sau Khả cho đào mộ Phan Đ́nh Phùng ở chân núi Quạt, đốt xác, trộn thuốc súng bắn xuống sông. Trước đó, 1894 họ đă khai quật mồ mả gia tộc họ Phùng ở làng Đông Thái và bắt giam hết thân quyến Phan Đ́nh Phùng nhưng không khuất phục được ông. Không những vậy, Ngô Đ́nh Khả c̣n chịu trách nhiệm chính trong việc biến khu vực Đài Trấn B́nh của triều Nguyễn thành nhà thờ công giáo [việc này trong một chủ đề khác]. Với thành tích trên Nguyễn Thân được chính phủ Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng ba, sau bị điên mà chết. Ngô Đ́nh Khả được phong tước Thái thường Tự khanh (chính tam phẩm) và chức Thương biện thuộc Viện Cơ mật.


Ngày 23/10/1896, trường Quốc học Huế, tên gốc là "Pháp tự Quốc học Trường môn" thành lâp theo Chỉ dụ của vua Thành Thái. Đây là trường đầu tiên ở Trung Kỳ dạy từ tiểu học đến bậc tú tài chuyên khoa. Ngày 18/11/1896 Toàn quyền Đông dương Paul Armand Rosseau kư quyết định thành lập. Trước đó, ngày 21/8/1896, Viện Cơ Mật quyết định chọn Ngô Đ́nh Khả làm Chưởng giáo nhưng sau th́ Khả làm Phó Giám đốc, đặc trách quản trị hành chính. Với kiến thức được học tập tại nước ngoài Ngô Đ́nh Khả đă có công xây dựng trường Quốc học Huế trong những năm đầu tiên.


Năm 1898 vua Thành Thái phong Ngô Đ́nh Khả làm Thượng thư Phụ đạo Đại thần.
Năm 1902, vua Thành Thái lại tiếp tục thăng hàm Hiệp tá Đại học sỹ. Từ đây, Ngô Đ́nh Khả thôi chức vụ ở Quốc học Huế.
Năm 1905 Ngô Đ́nh Khả làm nhiệm vụ Tổng quản Cấm thành, chuyên theo dơi vua Thành Thái. Khả nuôi tham vọng biến Thành Thái thành một vua theo Ki-tô giáo đầu tiên [Xem Vũ Ngự Chiêu “Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945” 3 tập, Houston: Văn Hóa, 1999-2000).


Trong cuộc họp tại Ṭa Khâm sứ Pháp vào lúc 4:15 chiều ngày 14/8/1906, có mời các Thượng thư Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ H́nh, Bộ Công của triều đ́nh nhà Nguyễn, tài liệu của Pháp ghi: “... S.E. le Ministre de l'Intérieur fait renseigner que M. NGO DINH KHA, Chef des Thi Ve chargé de la haute direction du Palais devra être invité et fournir tous renseignements concernant ces personnages qu'il connait mieux que tout autre. APPROUVÉ.” Tạm dịch: “Ngài Thượng thư Bộ Lại mật báo là ông Ngô Đ́nh Khả, chỉ huy Thị Vệ, đảm trách tổng cai quản Hoàng cung, sẽ phải được mời tham dự, để ông ấy cung cấp tất cả các tin tức tài liệu liên quan đến các nhân vật kia, mà ông ta hiểu biết tận tường hơn bất cứ người nào khác... (Lời mật-báo ấy) ĐĂ ĐƯỢC CHẤP THUẬN.”


Năm 1907, vua Thành Thái có hành vi chống Pháp nên Khâm sứ Ferdinand Lévecque bày việc các Đại thần triều đ́nh kư thỉnh nguyện thư yêu cầu viện Cơ mật truất quyền và đày vua Thành Thái sang châu Phi v́ nhà vua bị “bệnh tâm thần”. Hầu hết các đại thần đều kư, Ngô Đ́nh Khả không kư nhưng trong lá thư ngày 15/8/1907, Khả vận động 154 học sinh gởi Khâm sứ Levecque tỏ lộ rằng: “Yêu cầu Pháp ban cho họ một ông vua mà chỉ nguyên sự hiện diện đủ trấn an tinh thần binh sĩ và các liệt thần của đế quốc.” [Xem Vũ Ngự Chiêu, “Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945” tập 2, trang 585, việc phản đối “phế ngôi, đày vua”, không phải v́ ông Khả lo cho sơn hà xă tắc nước Nam, mà mưu đồ hợp tung giữa Nguyễn Hữu Bài và Khả xem có được ḷng Giáo hội và khả năng khuynh loát triều chính hay không.]


Ngày 03/9/1907, Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài, cùng Phủ Phụ Chính (trong đó có Khả) chấp nhận giải pháp của CP Bảo hộ, một tháng sau 17/10/1907, Vĩnh San, hoàng tử thứ hai mới 10 tuổi, lên ngôi. Thành thái phải rời Huế đi Bà rịa, mở đầu cho cuộc đời lưu đày viễn xứ. Sau biến cố này, Ngô Đ́nh Khả lại bị người Pháp nghi ngờ đứng sau vua Thành Thái để ủng hộ cho Kỳ Ngoại hầu Cường Để nên chính quyền Bảo hộ đă tạo cớ buộc Ngô Đ́nh Khả nghỉ hưu. [Xem “Lịch Sử Phật Giáo Huế” trang 357: “Mấy chữ sau đây của ông Nguyễn Đ́nh Ḥe nói về ông Ngô Đ́nh Khả, mà Louis Sogny trích lại trong bài viết của ông ở BAVH (Bulletin des Amis du Vieux de Hue), tưởng là quá đủ: “...un grand serviteur de la France...” Cho nên đối với nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, nhất là dân Huế, th́ ông Ngô Đ́nh Khả đă “tombé dans l’oubli depuis longtemps” như lời ông Nguyễn Đ́nh Ḥe nói vào đầu thế kỷ 20 là điều hiển nhiên vậy.”]


Ngô Đ́nh Khả sau được phục hàm và mất 1925 v́ bệnh phổi. Bà Phạm Thị Thân qua đời tại Sài G̣n ngày 02/01/1964 sau khi chứng kiến cái chết thảm của hai con và một bị giam ở Chí Ḥa.


NĂM THÁNG QUA ĐI


Động mả kỳ thứ nhất là năm 1939. Nhà tư sản lúa gạo người Đồng Hới, tên là Paul Ngọc, đă mua vùng đất Ba Canh, dưới chân An Mă để canh tác. Ba Canh không phải vùng màu mỡ thuận lợi để sản xuất lúa gạo nên Paul Ngọc đă cho đào mương dẫn thủy làm chấn động mạch khí. Mặc dầu việc thủy lợi dở dang nhưng liền đó Ngô Đ́nh Diệm bị Bảo Đại cách chức Thượng thư Bộ Lại thu hồi tất cả phẩm trật huy chương v́ trái mệnh triều đ́nh chống đối Hoàng đế. Cùng với sự thất sủng của ông Diệm, ông Ngô Đ́nh Khôi đang làm Tổng đốc Quảng Nam bị viên Phó Toàn quyền Nouailletas gây khó.


Động mả kỳ thứ hai là năm 1944. Paul Ngọc mời được một kỹ sư canh nông Nhật và tiếp tục công tŕnh dang dở. Liền đó, ông Ngô Đ́nh Khôi, Tổng đốc Quảng Nam cùng con trai Ngô Đ́nh Huân bị thủ tiêu năm 1945. Khi đó việc thủy lợi của Paul Ngọc lại dang dở lần nữa do Đồng minh đánh Nhật, mọi việc đều đ́nh đốn, các kênh dẫn thủy nhờ thời gian yên ắng đă được đất bồi lại, long mạch được hàn gắn phần nào. Ông Vơ Nguyên Giáp [đồng hương với họ Ngô] Bộ trưởng Nội vụ và Vũ Đ́nh Ḥe Bộ trưởng Giáo dục CP Lâm Thời, kư sắc lệnh số 21 ngày 08/9/1945 bổ nhiệm ông Ngô Đ́nh Nhu làm giám đốc Nha lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc. Ông Nhu từ chối. Năm 1951, ông Diệm sang Mỹ, ở New Jesey vận động cho những mục tiêu chính trị riêng.


Động mả kỳ thứ ba là năm 1961. HTX Đại Phong xây dựng lá cờ đầu nông nghiệp, khai hoang Bến Tiến, đào kênh đẫn thủy, đào hầm hào ở chân đồi An Mă. Việc hành quyết ông Diệm, ông Nhu th́ ai cũng rơ. Ngô Đ́nh Cẩn đang ở Huế, nghe tin anh bị đảo chính tá túc vào nhà thờ ḍng Chúa Cứu Thế ngày 02/11/1963 nhưng không thoát, tới ngày 16/4/1964 bị xử bắn. Ông Ngô Đ́nh Luyện thoát v́ đang ở London. Ông Ngô Đ́nh Thục phải lưu vong, sau đó ông đă vi phạm việc tấn phong Giám mục bất hợp thức, được giải vạ năm 1984 trước khi mất vài tháng. Các phần mộ gia đ́nh họ Ngô ở Sài G̣n cũng không được yên, phải di dời tới nơi mới như hiện nay.


Tích sử c̣n dài, nhưng tới đây đủ dăy bày nhân quả.


(FB Lena Morgoun)