Trong một số trường hợp, ăn uống đối với người Việt không chỉ để no mà là để thưởng thức, từ đó h́nh thành nền “văn hóa ẩm thực” phong phú và đa dạng.

Băi Kỳ Co, Qui Nhơn, B́nh Định
ẢNH: NGUYỄN DŨNG
Trên cái nền văn hóa đó, đặc sản “dé ḅ” ở huyện Tây Sơn, tỉnh B́nh Định là một trong những món tạo được ấn tượng sâu đậm đối với những ai đă từng trải nghiệm!
“Hồn cốt” của món dé ḅ được tạo nên từ nước dé. Thường những ǵ có phẩm chất cao th́ quá tŕnh tạo ra nó cũng rất đặc biệt, nước dé cũng như thế. Đó là chất dinh dưỡng để nuôi con ḅ, lúc ḅ bị làm thịt, chất bổ chưa kịp hấp thụ hết, c̣n lẫn với phần xơ nằm ở đoạn cuối của ruột non giáp với ruột già. V́ vậy, chỉ duy nhất đoạn này là có nước dé chứ không phải đoạn nào trong ruột non cũng có. Cho nên nước dé rất ít, b́nh quân một con ḅ chỉ lấy được khoảng một lít và chỉ những con “ḅ cỏ”, tức ḅ nuôi thả ăn cỏ tự nhiên, mới có. Nếu ḅ thường bị nhốt, cho ăn rơm hoặc thức ăn công nghiệp th́ không có nước dé. Có thể nói nước dé là “tinh túy” trong con ḅ.
Món dé ngon hay dở phụ thuộc ở tay nghề người “bắt dé”: chặt tay th́ ít nước, lỏng tay th́ mất vị, bắt sát ruột già th́ nặng mùi, không khéo th́ hỏng đặc sản. Không có sách vở hay công thức truyền miệng nào, người “bắt dé” chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và trực giác của ḿnh mà làm: cắt đoạn ruột chứa nước dé, dùng tay vuốt ra một chất nhầy sệt sệt, đổ vào đó một lượng nước sôi phù hợp, quấy đều cho chất nhầy tan ra, dùng cái rây bột lược lấy nước, bỏ xác. Có người cẩn thận đem đun sôi, để nguội, đợi xác lắng xuống, chắt lấy nước. Nước dé có màu xanh cỏ tươi rất đẹp, có vị đắng và mùi hinh hỉnh. Phải khẳng định ngay rằng không có nó th́ không phải dé ḅ! Việc lấy chất đắng khác để thay thế là “giả dé”. Thông thường, người ta giả bằng mật ḅ, khổ qua giă nát lấy nước để tạo vị đắng. Món này là “ḷng đắng” chứ không phải “dé ḅ”.
Sức hấp dẫn của món dé c̣n phụ thuộc ở sự tinh tế, công phu trong việc chế biến nguyên liệu đi cùng. Lấy chanh, muối hột lận rửa cho sạch ruột non, chần sơ qua nước sôi để khử mùi. Cùng bộ “ḷng chay” là gan, lá lách, tim, cật đem ra cắt thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Tất cả đem ướp gia vị ít nhất một tiếng mới thấm, phải cay mới ngon. Huyết th́ cắt thành từng miếng vuông để riêng. Đâu vào đấy rồi th́ nấu: phi hành xào phần ḷng đă ướp, trộn đều đến khi ḷng săn lại, dậy mùi thơm th́ đổ tí nước lắp xắp, đậy nắp. Phần nước đó cạn th́ tiếp tục cho thêm một lượng nước đun sôi trở lại, thấy ḷng mềm th́ đổ nước dé vào. Sau cùng ṿ lá giang bỏ vô. Rau sống ăn kèm thường là rau ngổ và giá sống.
Tinh túy và công phu như thế nên ngày xưa dé chỉ có trong dịp giỗ chạp, đám tiệc, mà chỉ dành ở các mâm người lớn, đàn bà và trẻ em ít được thưởng thức. Một phần v́ có ít, không thể mâm nào cũng có; một phần v́ dé rất kén người ăn, không phải ai cũng thích, người ta ngại mùi của nó. Nhưng nếu chế biến đúng cách th́ nó sạch và thơm, rất bổ và giải nhiệt. Ăn dé phải ăn nóng, vừa ăn vừa thổi mới ngon. Tô dé múc ra hôi hổi, tỏa hơi thơm lừng, lá giang chua chua ngọt ngọt làm dịu vị đắng, có bánh tráng nướng bẻ kêu gịn rụm càng thêm hấp dẫn. Thức uống với người sành điệu là rượu chứ không phải bia, mà phải uống rượu Tây Sơn hoặc Bàu Đá mới đúng chất. Mùi vị trong dé quyện với độ thơm nồng của rượu nuốt đến đâu ngấm sâu đến đấy, thưởng thức một lần cũng nhớ măi.
Nếu trải nghiệm món dé đúng theo cách truyền thống th́ đó là món ăn hội tụ từ màu, mùi, vị, tức là cùng lúc phải dùng nhiều giác quan để thưởng thức. Vị th́ đầy đủ ngũ vị: đắng, chua, cay, ngọt, mặn, trong đó vị đắng giữ vai tṛ chính, tạo nên đặc sản một vùng quê, góp phần làm phong phú ẩm thực Việt.