Trong bộ Lịch sử Việt Nam (tập 1) do Ủy ban Khoa học xă hội Việt Nam biên soạn năm 1976, trang 410 có viết: “Nguyễn Văn Tú (người Quảng Trị) đă chế tạo được đồng hồ máy và ống nḥm theo kiểu phương Tây”. Trước hết, xin được đề cập đến loại đồng hồ trước đó đă xuất hiện ở nước ta để thấy tầm quan trọng của sáng chế này.
thoi-vua-le-chua-trinh
Đầu tiên có thể người ta ước định thời gian bằng cách đo bóng nắng. Họ nh́n mặt trời lên “một con sào” hay lên “đỉnh đầu” để biết “đứng bóng” hoặc “tṛn bóng” hoặc “xế bóng” mà định thời khắc trong ngày. Về sau, họ biết bắt chước theo kiểu đồng hồ “lậu khắc” từ bên Tàu truyền sang. Trên báo Tuần san SGGP số ra ngày 2-5-1998, ông Hoàng Anh giải thích như sau: “Trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều có câu:
Mắt chưa nhắp, đồng hồ đă cạn
Cảnh tiêu điều ngao ngán dường kia
Đồng hồ trong hai câu thơ trên dùng để đo thời gian, nhưng hoàn toàn không giống đồng hồ ngày nay. Đó là một cái b́nh (chữ Hán hồ có nghĩa là b́nh) bằng đồng, trên thành b́nh khắc mười hai khắc tương đương với 12 “giờ” (Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Th́n, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) của một ngày một đêm. Ở đáy b́nh có một lỗ nhỏ. B́nh chứa đầy nước. Nước rỉ ra theo lỗ nhỏ, cạn dần, cạn tới mức nào đó th́ tính ra giờ tương ứng với mức đó. Loại đồng hồ này c̣n gọi là lậu hồ (lậu có nghĩa là nhỏ giọt, rỉ ra).
Đồng hồ trong truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là loại lậu hồ này.
Đêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm sương
Có nơi dùng cát mịn thay cho nước gọi là sa lậu (sa nghĩa là cát). Sa lậu gồm có hai b́nh bằng thủy tinh chồng lên, thông với nhau bằng một lỗ nhỏ. Cát mịn từ b́nh A (ở trên) từ từ chảy xuống b́nh B (ở dưới) qua lỗ nhỏ. Căn cứ vào mực cát khắc trên thành b́nh mà người ta tính được giờ. Khi cát ở b́nh A chảy hết, người ta lật ngược sa lậu, đến lượt cát ở b́nh B (ở trên) chảy dần xuống b́nh A (ở dưới)…".
Nghĩ ra “kỹ thuật” của đồng hồ kiểu này trong Vân đài loại ngữ, nhà bác học Lê Quư Đôn cho biết: “Sơ học kư chép: “Việc làm ra lậu khắc có từ đời Hoàng Đế, truyền đến đời Hạ, đời Thương”. Cái lậu khắc ấy dùng để xem giờ có 3 tầng tṛn, đường kính đều một thước, để trên cái thùng hứng nước h́nh vuông, có con rùa vàng miệng phun nước vào thùng, nước chảy ngang dọc lại chảy xuống đồ chứa nước để ngang ở dưới gọi là cái cừ. trên cái cừ này có đặt h́nh nhân đúc bằng vàng gọi là quan tư thần, mặc áo, đội mũ, tay có cầm hai cái tên. Ấy là cái lậu khắc do Ân Quỳ chế ra”. Đọc như vầy, ta hiểu là khi nước chảy ngập đến khắc nào của cái tên (hay cái thẻ) mà quan tư thần đang cầm, th́ người ta biết được thời khắc lúc ấy. Ngoài ra c̣n có loại đồng hồ khác do Lư Lan chế ra mà Lê Quư Đôn miêu tả: “Lấy đồng đúc một con quạ khát nước, gọi là khát ô, h́nh thù như một cái móc câu uốn khúc, dẫn nước vào miệng con rồng bạc cho phun vào chậu, cứ nước chảy xuống được một thưng, trọng lượng hai cân là một khắc”.
Theo Đại Nam thực lục (tiền biên) th́ đời chúa Nguyễn Phúc Chu, những người thợ ở Đàng Trong đă chế được loại đồng hồ tự động đánh chuông gọi là Tự minh chung. Loại đồng hồ này có điểm đặc biệt là nó chia làm 24 giờ. Thời gian này, các cố đạo trên đường đi t́m nơi rao giảng đạo, họ đến nước ta và dĩ nhiên phải làm mọi cách để lấy ḷng chính quyền nước sở tại. Một trong những cách lấy ḷng ấy là họ đă tặng quà bằng những chiếc đồng hồ chạy bằng máy móc, gọn nhẹ và chính xác. Chiếc đồng hồ do cha cố tặng cho chúa Nguyễn Phúc Chu một ngày nọ bị hỏng hóc, chạy cà rịch cà tang, Chúa bực ḿnh lắm, bèn giao cho một người thợ Tây (tên dịch là Từ Tâm Bá) và một người thợ Tàu là Tài Phú đem về sửa. Hai người này mày ṃ măi mà vẫn không sửa được. C̣n các quan lại của ta th́ dĩ nhiên là bó tay “chào thua” trước chiếc đồng hồ sản xuất theo kỹ thuật tiên tiến của phương Tây.
Cuối cùng những người dân ở vùng Thuận Hóa mới giới thiệu cho Chúa một cụ già 74 tuổi. Cụ tên là Nguyễn Văn Tú, người xă Đại Ḥa, huyện Đăng Xương (nay là huyện Triệu Hải - B́nh Trị Thiên). Đến gặp Chúa, cụ thưa:
- Gia đ́nh chúng tôi xin nhận sửa chiếc đồng hồ này. Có lẽ cũng không khó lắm.
Chúa Nguyễn Phúc Chu ngạc nhiên:
- Gia đ́nh à? Sao lại là gia đ́nh?
Cụ Tú cúi đầu từ tốn đáp:
- Bẩm Chúa, đúng như vậy ạ!
Thế là cụ cầm chiếc đồng hồ đem về sửa. Chỉ hai ngày sau, công việc hoàn thành. Đem trả lại đồng hồ Chúa lúc bấy giờ là cả một đoàn người, có người em cụ là Nguyễn Văn Thi, người con là Nguyễn Văn Duy, người con rể là Lương Văn Dũng. Cụ tŕnh với Chúa:
- Tất cả gia đ́nh chúng tôi đều biết sửa và chế tạo ra đồng hồ.
Để chứng minh cho lời nói của ḿnh, ngoài chiếc đồng hồ cũ của Chúa đă sửa ḥan chỉnh, cụ c̣n tặng thêm một chiếc đồng hồ mới! Đặc biệt chiếc đồng hồ do gia đ́nh cụ chế tạo, ngoài việc đánh chuông báo giờ th́ nó c̣n báo từng ngày trong tháng. Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quư Đôn có nói rơ: “Hễ gặp ngày nào th́ hai bên hiện chữ ra, hết ṿng th́ trở lại, thật là tuyệt diệu”.
Câu ca dao hiếm hoi có h́nh ảnh chiếc đồng hồ:
Đồng hồ sai bởi dây thiều
Xa anh v́ bởi sợi chỉ điều se lơi
Có lẽ xuất hiện thời này chăng? Một phát minh quan trọng như thế vậy mà lại không được những nhà làm sử lưu tâm ghi chép tŕnh bày đầy đủ chi tiết kỹ thuật.
Đáng tiếc thay!
L.M.Q
(1999)
|
|